Kiểm toán nhà nước công khai kết quả kiểm toán ngân sách địa phương năm 2024 của tỉnh Phú Thọ (trước sáp nhập)

14/02/2026
Xem cỡ chữ Đọc bài viết In trang Google

(sav.gov.vn) - Kiểm toán nhà nước (KTNN) vừa công khai Báo cáo kiểm toán ngân sách địa phương và Báo cáo quyết toán ngân sách địa phương năm 2024 của tỉnh Phú Thọ (trước sáp nhập). Báo cáo phản ánh toàn diện kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế trong quản lý, điều hành ngân sách nhà nước (NSNN), đồng thời nêu rõ các kiến nghị xử lý tài chính và chấn chỉnh quản lý đối với địa phương.

Một góc trung tâm hành chính của tỉnh Phú Thọ. Ảnh: Sưu tầm

Năm 2024 là năm thứ ba thực hiện thời kỳ ổn định ngân sách giai đoạn 2022-2025. Trong năm, tỉnh đã có nhiều nỗ lực trong quản lý, chỉ đạo và điều hành dự toán NSNN theo Nghị quyết số 01/NQ-CP về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán NSNN năm 2024.

Theo báo cáo kiểm toán, UBND tỉnh giao dự toán thu nội địa 6.392.000 triệu đồng, thu từ hoạt động xuất, nhập khẩu 480.000 triệu đồng; dự toán chi NSNN là 15.388.241 triệu đồng. Kết quả thực hiện cho thấy, tổng thu NSNN trên địa bàn đạt 9.544.278 triệu đồng, bằng 138,9% dự toán Trung ương và HĐND tỉnh giao; trong đó, thu nội địa đạt 8.721.181 triệu đồng, bằng 136,4% dự toán. Toàn bộ 15/15 chỉ tiêu thu đều hoàn thành và vượt dự toán đầu năm.

Những tồn tại, hạn chế được chỉ ra qua kiểm toán

Bên cạnh kết quả đạt được, KTNN chỉ rõ nhiều tồn tại trong công tác lập, giao dự toán và chấp hành ngân sách.

Công tác lập và giao dự toán

Kết quả kiểm toán cho thấy việc lập dự toán thu nội địa chưa bao quát đầy đủ các nguồn thu (thu cổ tức và lợi nhuận sau thuế) và chưa bám sát hướng dẫn của Trung ương dẫn đến việc giao dự toán thu thấp hơn khả năng thực hiện, làm ảnh hưởng đến công tác dự báo, điều hành ngân sách. Dự toán lập 4.311.000 triệu đồng (đã loại trừ thu tiền sử dụng đất, xổ số kiến thiết) lập thấp hơn 2.497.711 triệu đồng so với số thực thu năm 2024, bằng 90,2% so với số ước thực hiện năm 2023 (4.777.000 triệu đồng), nhưng chỉ bằng 63,3% so với thực hiện năm 2024 (6.808.711 triệu đồng).

Đối với chi đầu tư phát triển: (i) Kế hoạch vốn năm 2023, 2024 đã phân bổ cho các dự án vượt Kế hoạch đầu tư công trung hạn 2021-2025 với số tiền 2.074.273 triệu đồng là chưa phù hợp điểm c khoản 2 Điều 47 và khoản 7 Điều 48 Luật Đầu tư công số 39/2019/QH14; trong đó 37 dự án được phân bổ Kế hoạch vốn năm 2024 với số tiền 313.138 triệu đồng nhưng chưa có trong danh mục Kế hoạch đầu tư công trung hạn 2021-2025 (cuối năm 2024 và năm 2025, địa phương đã điều chỉnh bổ sung vào Kế hoạch đầu tư công trung hạn 2021-2025); (ii) Kế hoạch vốn đầu tư công năm 2024 của 06/06 đơn vị cấp huyện được kiểm toán chỉ tiết chưa ưu tiên bố trí đủ vốn cho các dự án hoàn thành quyết toán, chờ quyết toán theo quy định khoản 4 Điều 51 Luật Đầu tư công số 39/2019/QH14 và khoản 8 Điều 4 Nghị quyết số 973/2020/UBTVQH14 quy định về nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn đầu tư công nguồn ngân sách nhà nước giai đoạn 2021-2025.

Về chi thường xuyên: (i) Việc phân cấp quản lý ngân sách cho các đơn vị dự toán tỉnh còn chưa đảm bảo thống nhất, chặt chẽ; (ii) HĐND, UBND Tinh thực hiện cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập chưa đảm bảo quy định tại khoản 4 Điều 35 Nghị định số 60/2021/NĐ-CP quy định cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập “hằng năm, thực hiện giảm tối thiểu 2,5% chi hỗ trợ trực tiếp từ ngân sách nhà nước”, thiếu 7.946,2 triệu đồng; (ii) UBND Tỉnh bổ sung chi hoạt động cho Quỹ Phát triển đất 665,5 triệu đồng, chưa đúng quy định tại khoản 11 Điều 8 Luật NSNN số 83/2015/QH13.

Công tác chấp hành ngân sách

Kết quả kiểm toán chỉ rõ công tác chi đầu tư phát triển còn bất cập. Đến thời điểm 30/6/2025, UBND tỉnh Phú Thọ chưa báo cáo về việc rà soát, làm rõ nguyên nhân và xác định chính xác số liệu nợ đọng XDСВ (bao gồm nợ tính theo Kế hoạch vốn hàng năm và nợ tính theo Kế hoạch vốn trung hạn) theo từng mốc thời điểm theo yêu cầu của Bộ Tài chính tại Văn bản số 4080/BTC-TH ngày 01/4/2025 (thời hạn báo cáo là trước ngày 14/4/2025). Sau thời điểm kiểm toán, căn cứ Văn bản số 11012/BTC-KTĐP ngày 18/7/2025 của Bộ Tài chính, UBND Tỉnh đã có Văn bản số 2492/UBND-KT12 ngày 16/8/2025 báo cáo tình hình nợ đọng XDCB vốn NSNN gửi Bộ Tài chính.

Qua kiểm tra Văn bản này cho thấy: (i) Chưa xác định rõ được số nợ đọng XDCB (theo Kế hoạch vốn trung hạn) theo yêu cầu của Văn bản số 4080/BTC-TH ngày 01/4/2025; (ii) Số liệu theo dõi của Sở Tài chính còn có chênh lệch so với số liệu báo cáo của 06 huyện, thị xã, thành phố và 03 chủ đầu tư được kiểm toán; (iii) Kiểm tra chọn mẫu 08 dự án hoàn thành đã phê duyệt quyết toán trong năm 2024 tại Sở Tài chính cho thấy nợ khối lượng hoàn thành đến 31/12/2023 của 08 dự án là 8.616 triệu đồng; năm 2024 sau khi bố trí Kế hoạch vốn thì số vốn còn thiếu đến 31/12/2024 là 1.719 triệu đồng (đến tháng 6/2025, đã bố trí đủ Kế hoạch vốn còn thiếu so với quyết toán) nhưng chưa được UBND Tỉnh tổng hợp vào Văn bản số 2492/UBND-KT12.

Đến thời điểm 31/12/2024, số vốn thanh toán vượt so với giá trị quyết toán được phê duyệt nhưng chưa thu hồi hết của 106 dự án là 15.675 triệu đồng (cấp tỉnh: 42 dự án số tiền 13.303 triệu đồng, cấp huyện: 64 dụ án số tiền 2.371 triệu đồng).

Nợ chính quyền địa phương: Địa phương chỉ trả nợ gốc, lãi vay của Dụ án Năng lượng nông thôn II (RE II) thay cho các Hợp tác xã Điện năng và quyết toán vào chi NSĐP năm 2024 với số tiền 4.554 triệu đồng không phù hợp với Mục 3.7 Phần thứ II của Quyết định số 2191/QÐ-UBND ngày 10/9/2015 của UBND Tỉnh về kế hoạch thu hồi vốn Dự án năng lượng nông thôn II tỉnh Phú Thọ.

Tổng số vốn tạm ứng quá hạn chưa thu hồi của các dự án đến hết niên độ năm 2024 là 8.888 triệu đồng. Kho bạc nhà nước khu vực VIII đã có văn bản đôn đốc và đến thời điểm kiểm toán tháng 6/2025 đã thu hồi được 866 triệu đồng, còn lại 8.022 triệu đồng của 21 dự án chưa thu hồi (trong đó, KTNN đã kiến nghị các năm trước 7.985 triệu đồng, chưa kiến nghị 37 triệu đồng).

Về chi thường xuyên và quản lý, điều hành ngân sách:

(1) Cấp tỉnh và 06/06 huyện, thị xã, thành phố được kiểm toán dành chưa đủ hoặc chưa dành 10% tổng số thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất (thiếu 45.573,8 triệu đồng) cho công tác đo đạc, đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai và đăng ký biến động, chỉnh lý hồ sơ địa chính thường xuyên.

(2) Việc quản lý, sử dụng tăng thu ngân sách: Địa phương trích chưa đủ 70% số tăng thu thực hiện năm 2024 để tạo nguồn thực hiện cải cách tiền lương (CCTL) năm 2025 theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 4 Thông tư số 88/2024/TT-BTC quy định về tổ chức thực hiện dự toán ngân sách nhà nước năm 2025 (cấp tỉnh thiếu 206.294 triệu đồng, huyện Tam Nông thiếu 132,5 triệu đồng).

(3) Việc trích lập và sử dụng nguồn kinh phí CCTL: Qua kiểm toán xác định nguồn thực hiện CCTL năm 2024 còn dư chuyển sang năm 2025 sử dụng là 360.497,2 triệu đồng, tăng 360.200,2 triệu đồng so với thẩm định của Bộ Tài chính.

(4) Chi chương trình mục tiêu, các khoản bổ sung có mục tiêu: (i) Địa phương chưa bố trí vốn đối ứng đối với nguồn vốn sự nghiệp từ ngân sách Trung ương (NSTW) cho Chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG) Phát triển Kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi và vốn đối ứng đủ tỷ lệ 1:1,5 cho Chương trình MTQG xây dựng NTM giai đoạn 2021-2025; (ii) Đối với các chính sách an sinh xã hội: Theo Văn bản số 2049/UBND-TH ngày 25/4/2025 của UBND Tinh về việc báo cáo kết quả thực hiện chính sách an sinh xã hội của địa phương năm 2024 gửi Bộ Tài chính, kinh phí còn thiếu là 61.483 triệu đồng. Đến thời điểm 30/6/2025, Bộ Tài chính chưa có văn bản thẩm định; tuy nhiên qua kiểm tra chọn mẫu cho thấy nhu cầu thực hiện các chính sách an sinh xã hội năm 2024 còn thiếu là 52.119,4 triệu đồng, giảm 9.363,6 triệu đồng so với báo cáo của Tỉnh; (iii) HĐND, UBND Tỉnh phân bổ 23.836 triệu đồng vốn sự nghiệp năm 2024 NSTW bổ sung có mục tiêu cho tỉnh (phí sử dụng đường bộ) cho các công trình, dự án có danh mục trong Kế hoạch đầu tư công trung hạn là không đảm bảo quy định.

(5) Công tác xử lý chuyển nguồn cuối năm: (i) Ngân sách Tỉnh chuyển nguồn một số khoản kinh phí NSTW bổ sung có mục tiêu 51.870,1 triệu đồng đã hết thời hạn giải ngân, không đúng quy định tại khoản 3 Điều 64 Luật NSNN SỐ 83/2015/QH13, đồng thời chưa kịp thời nộp trả NSTW theo quy định tại khoản 3 Điều 18 của Thông tư số 342/2016/TT-BTC; (ii) 06 huyện, thị xã, thành phố được kiểm toán chi tiết chi chuyển nguồn kinh phí bổ sung có mục tiêu còn dư hết nhiệm vụ chi 11.080 triệu đồng (huyện Tam Nông 3.077,1 triệu đồng; huyện Hạ Hòa 391,7 triệu đồng; huyện Đoan Hùng 7.309,3 triệu đồng; thị xã Phú Thọ 301,9 triệu đồng).

Về văn bản quản lý, cơ chế chính sách: (i) Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh Phú Thọ chưa phối hợp các cơ quan có liên quan để tham mưu UBND Tỉnh ban hành danh mục sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước đối với sản xuất chương trình truyền hình, chương trình phát thanh theo phân cấp thuộc phạm vi quản lý của địa phương theo quy định và định mức kinh tế - kỹ thuật, định mức chi phí đối với sản phẩm dịch vụ công về lĩnh vực sản xuất truyền hình, chương trình phát thanh theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 26 Nghị định số 32/2019/NĐ-CP; (ii) Điểm a khoản 2 Điều 2 Quyết định số 26/2021/QĐ-UBND quy định cơcơ chế quản lý tài chính tại Khu di tích lịch sử Đền Hùng chưa phù hợp với quy định về quản lý, sử dụng tiền công đức, tài trợ cho di tích giao cho Ban quản lý di tích kiêm nhiệm quản lý, sử dụng tại khoản 1, 2 Điều 13 Thông tư số 04/2023/TT-BTC hướng dẫn quản lý, thu chi tài chính cho công tác tổ chức lễ hội và tiền công đức, tài trợ cho di tích và hoạt động lễ hội; (iii) Phụ lục II Quyết định số 29/2024/QĐ-UBND quy định phân công nhiệm vụ quản lý nhà nước về giá, thẩm định giá trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giao Sở Y tế tiếp nhận kê khai giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh theo yêu cầu của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước trên địa bàn (ngoài các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thực hiện kê khai giá tại Bộ Y tế) và các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân trên địa bàn quản lý là không phù hợp với điểm đ khoản 2 Điều 16 Nghị định số 85/2024/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Giá.

Kiến nghị của Kiểm toán nhà nước

Trên cơ sở kết quả kiểm toán, KTNN kiến nghị Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ thực hiện xử lý tài chính với tổng số tiền lớn, trong đó: tăng thu ngân sách 650.992.104 đồng; thu hồi nộp NSNN các khoản chi sai quy định 29.172.600.964 đồng; nộp NSNN các nguồn kinh phí còn dư hết nhiệm vụ chi 62.950.254.402 đồng; giảm thanh toán, giảm dự toán 187.711.757.589 đồng.

Kiến nghị Chủ đầu tư có trách nhiệm rà soát, thực hiện quản lý chi phí đầu tư theo quy định đối với giá trị chênh lệch xác định qua kiểm toán chi tiết các dự án đầu tư 403.496.531 đồng.

Bên cạnh đó, KTNN kiến nghị UBND tỉnh Phú Thọ chấn chỉnh, rút kinh nghiệm trong công tác quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công trong đó:

- Bố trí đủ nguồn 70% tăng thu thực hiện năm 2024 để tạo nguồn thực hiện CCTL năm 2025 theo quy định; báo cáo lại Bộ Tài chính về nguồn và nhu cầu thực hiện CCTL năm 2024 theo số kiểm toán xác định để xử lý theo quy định.

- Bố trí tối thiểu 10% số thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất để thực hiện công tác đo đạc, đăng ký đất đai, lập cơ sở dữ liệu hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Chỉ thị số 1474/CT-TTg và Quyết định số 191/QĐ-TTg ngày 08/02/2018 của Thủ tướng Chính phủ; trường hợp không có nhu cầu sử dụng, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét xử lý theo quy định.

- Trong quá trình hoàn thiện các văn bản thuộc thẩm quyền của UBND Tinh (sau sáp nhập) lưu ý giải quyết các hạn chế, bất cập đã được chỉ ra trong báo cáo kiểm toán, gồm: Phụ lục II Quyết định số 29/2024/QĐ-UBND chưa phù hợp với điểm đ khoản 2 Điều 16 Nghị định số 85/2024/NĐ-CP; khoản 2 Điều 2 Quyết định số 26/2021/QĐ-UBND chưa phù hợp với khoản 1, 2 Điều 13 Thông tư số 04/2023/TT-BTC; việc UBND Tỉnh chưa ban hành danh mục sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước đối với sản xuất chương trình truyền hình, chương trình phát thanh theo phân cấp thuộc phạm vi quản lý của địa phương, chưa ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật, định mức chi phí đối với sản phẩm dịch vụ công về lĩnh vực sản xuất truyền hình, chương trình phát thanh; chưa ban hành văn bản phân công hoặc ủy quyền việc quản lý tài chính, tài sản được giao cho các sở, ngành.

- Chấn chỉnh, rút kinh nghiệm và chấm dứt tình trạng lập dự toán thu nội địa thấp hơn khả năng thực hiện, chưa bao quát hết nguồn thu, chưa bám sát hướng dẫn của Trung ương.

 - Chấn chỉnh, rút kinh nghiệm trong việc: (i) Giảm trừ chưa đủ tối thiểu 2,5% chi hỗ trợ trực tiếp từ NSNN đối với các đơn vị sự nghiệp công lập; bổ sung chi hoạt động cho quỹ tài chính ngoài ngân sách chưa đúng quy định của Luật NSNN số 83/2015/QH13; chưa bố trí vốn đối ứng để thực hiện các chương trình MTQG, phân bổ vốn sự nghiệp NSTW sai quy định, đồng thời rà soát việc phân bổ nguồn vốn này các năm trước, sau có liên quan để xử lý theo quy định (nếu có); (ii) Giao kế hoạch vốn và chi trả nợ vay của chính quyền địa phương không đúng kế hoạch thu hồi vốn đã phê duyệt, đồng thời rà soát việc chi trả nợ vay chính quyền địa phương các năm trước, sau có liên quan để thu hồi nộp NSNN theo quy định (nếu có); (iii) Việc phân cấp quản lý ngân sách của các đơn vị dự toán tỉnh còn chưa đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ, đồng thời thực hiện và chỉ đạo các đơn vị giao dự toán, quyết toán ngân sách và lập báo cáo quyết toán theo quy định; (iv) Chậm báo cáo tình hình nợ đọng XDCB gửi Bộ Tài chính, chưa bố trí đủ Kế hoạch vốn để trả nợ đọng XDCB trước 01/01/2015.

- Rà soát, xử lý theo quy định pháp luật đối với các trường hợp phân bổ Kế hoạch vốn hàng năm vượt mức bố trí vốn hoặc chưa có danh mục trong Kế hoạch đầu tư công trung hạn; đồng thời chấm dứt việc giao Kế hoạch vốn hàng năm không phù hợp Kế hoạch đầu tư công trung hạn, việc điều chỉnh Kế hoạch đầu tư công trung hạn nhưng chưa dự kiến danh mục, mức vốn chi tiết cho các dự án.

- Chỉ đạo các đơn vị: (1) Kho bạc Nhà nước khu vực VIII và các phòng giao dịch phối hợp, tiếp tục đôn đốc các chủ đầu tư để thu hồi vốn ứng quá hạn, vốn thanh toán vượt giá trị quyết toán được phê duyệt theo quy định. (2) Sở Tài chính: (i) Rà soát lại số liệu nợ XDCB, số liệu vốn còn thiếu chưa bố trí đủ so với khối lượng nghiệm thu (nợ khối lượng hoàn thành) của các dự án trên phạm toàn tỉnh đảm bảo đầy đủ, chính xác, báo cáo các cơ quan có thẩm quyền xem xét xử lý theo quy định pháp luật; (ii) Tham mưu cho UBND tỉnh báo cáo lại nhu cầu thực hiện các chính sách an sinh xã hội năm 2024 gửi Bộ Tài chính; (iii) Tiếp tục rà soát, có giải pháp xử lý đối với các dự án đầu tư công chậm tiến độ, tạm dừng... nhằm đảm bảo hiệu quả vốn đầu tư, tránh lãng phí.

PV

Xem thêm »