Quốc hội nghe Chính phủ báo cáo về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025

22/07/2021
Xem cỡ chữ Đọc bài viết In trang Google

(sav.gov.vn) - Tiếp tục Chương trình Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XV, sáng ngày 22/7/2021, tại hội trường Diên Hồng, toà nhà Quốc hội, Ba Đình, Hà Nội, Quốc hội nghe Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhiệm kỳ 2016-2021 Nguyễn Chí Dũng, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, trình bày Tờ trình về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025. Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải điều hành phiên họp.

Toàn cảnh phiên họp

Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2016-2020 chưa đạt mục tiêu kế hoạch đề ra

Theo Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) Nguyễn Chí Dũng, 5 năm qua, kinh tế vĩ mô ngày càng ổn định, vững chắc hơn, cụ thể: Các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm; thu ngân sách Nhà nước vượt kế hoạch; bội chi, nợ công giảm mạnh; kim ngạch xuất nhập khẩu đạt kỷ lục.

Bên cạnh đó, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng đạt kết quả tích cực, đúng hướng, thực chất. Hệ thống pháp luật cơ bản được hoàn thiện. Kết cấu hạ tầng phát triển đồng bộ, nhất là hạ tầng giao thông và hạ tầng đô thị lớn. An sinh xã hội cơ bản được bảo đảm. Phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn đa chiều giảm mạnh; xây dựng nông thôn mới đạt được nhiều kết quả tích cực, vượt trước thời hạn hơn 2 năm. Quốc phòng, an ninh được tăng cường, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm; công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế đi vào chiều sâu, thực chất hơn.

Bộ trưởng Bộ KH&ĐT cũng thẳng thắn nhìn nhận, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2016-2020 chưa đạt mục tiêu kế hoạch đề ra, chủ yếu do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19. Năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức chống chịu và cạnh tranh, tính độc lập tự chủ của nền kinh tế chưa cao. Kết quả thực hiện 3 đột phá chiến lược chưa đạt được mục tiêu đề ra. Cổ phần hóa Doanh nghiệp Nhà nước còn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu. Liên kết vùng còn lỏng lẻo. Kết quả giảm nghèo đa chiều chưa thực sự bền vững. Phát triển văn hóa, xây dựng con người Việt Nam chưa tương xứng với phát triển kinh tế. Chất lượng môi trường một số nơi suy giảm. Bộ máy nhà nước ở một số nơi còn cồng kềnh, chồng chéo; phân công, phân cấp, phân quyền gắn với kiểm tra, giám sát chưa thực sự hiệu quả. Bảo vệ chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ còn nhiều thách thức. Chưa tận dụng, khai thác tối đa, hiệu quả những cơ hội trong hội nhập quốc tế.

Nguyên nhân chủ yếu là do tình hình thế giới diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường; năng lực nội tại của nền kinh tế còn thấp; thiên tai, dịch bệnh... tác động mạnh và thường xuyên hơn, đặc biệt đại dịch Covid-19 từ đầu năm 2020; một số cơ chế, chính sách còn bất cập, chậm được sửa đổi, bổ sung; sự phối hợp giữa các cấp, các ngành có lúc, có nơi còn yếu kém, chưa chặt chẽ, hiệu quả; phẩm chất, năng lực, uy tín của một bộ phận cán bộ, nhất là người đứng đầu ở một số cơ quan, đơn vị chưa thực sự ngang tầm nhiệm vụ; tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu, chậm được khắc phục; công tác phân tích, dự báo còn hạn chế.
 
Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhiệm kỳ 2016-2021 Nguyễn Chí Dũng trình bày Tờ trình về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025.

Bảo đảm tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô

Bộ trưởng Bộ KH&ĐT Nguyễn Chí Dũng cho biết, mục tiêu tổng quát dự kiến Kế hoạch phát triển KTXH 5 năm 2021-2025 là: Bảo đảm tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, trên cơ sở tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế của đất nước; phấn đấu tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn mức bình quân của 5 năm 2016-2020, đến năm 2025 là nước đang phát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; thực hiện đồng bộ các giải pháp khắc phục có hiệu quả tác động của đại dịch Covid-19, nhanh chóng phục hồi và phát triển kinh tế. Phát huy mạnh mẽ giá trị văn hoá, sức mạnh con người Việt Nam và sức sáng tạo của mỗi cá nhân. Từng bước xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Quan tâm bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Chú trọng bảo vệ môi trường và ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu. Tăng cường quốc phòng, an ninh; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Theo đó, dự kiến Kế hoạch phát triển KTXH 5 năm 2021-2025 đã đề ra 23 chỉ tiêu, trong đó có 08 chỉ tiêu về kinh tế, 09 chỉ tiêu về xã hội và 06 chỉ tiêu về môi trường.

Dự kiến tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 5 năm khoảng 6,5-7%; đóng góp của TFP vào tăng trưởng đạt khoảng 45%; bội chi NSNN bình quân 3,7% GDP.

Bản Kế hoạch cũng đề ra 12 nhóm nhiệm vụ, giải pháp, nhằm thực hiện 03 đột phá chiến lược, 06 nhiệm vụ trọng tâm, bảo đảm bám sát và cụ thể hóa phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp phát triển KTXH 5 năm 2021-2025 đã được Đại hội XIII của Đảng thông qua. Trong đó tập trung thực hiện “mục tiêu kép” vừa phòng, chống dịch Covid-19, vừa phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội; khẩn trương triển khai chiến lược vắc-xin toàn diện, hiệu quả, tổ chức chương trình tiêm chủng vắc-xin Covid-19 cho nhân dân, phấn đấu đạt miễn dịch cộng đồng vào cuối năm 2021, đầu năm 2022.

Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; kịp thời thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng.

Đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh; phát triển kinh tế số, xã hội số. Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, nâng cao khả năng thích ứng và sức chống chịu của nền kinh tế. Nhanh chóng phục hồi nền kinh tế trong những năm đầu nhiệm kỳ, bứt phá, phát triển trong những năm tiếp theo...
 
Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Vũ Hồng Thanh trình bày Báo cáo thẩm tra về kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội 5 năm 2016-2020

Giai đoạn 5 năm 2016-2020 đã đạt những thành tựu quan trọng

Báo cáo thẩm tra về kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội 5 năm 2016-2020, theo Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Vũ Hồng Thanh, Uỷ ban Kinh tế nhất trí với nhiều nội dung theo Báo cáo của Chính phủ. Về tổng thể giai đoạn 5 năm 2016-2020 đã đạt những thành tựu rất quan trọng, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật. Ủy ban Kinh tế đánh giá cao công tác điều hành của Chính phủ có nhiều đổi mới, tập trung xử lý các vấn đề KTXH khó khăn, thể hiện sự quyết liệt, năng động, nhất quán, sâu sát. Đặc biệt, môi trường đầu tư, kinh doanh; thủ tục hành chính; điều kiện kinh doanh ... được cắt giảm, tạo điều kiện tối đa cho doanh nghiệp và người dân.

Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Vũ Hồng Thanh nhận định: Tốc độ tăng GDP giai đoạn 2016-2019 đạt khá cao, bình quân 6,78%/năm; dù phải hứng chịu dịch bệnh Covid-19, nhưng năm 2020, Việt Nam nằm trong rất ít quốc gia có mức tăng trưởng dương. Xây dựng thể chế, hệ thống pháp luật và cơ chế điều hành ngày càng đồng bộ, hoàn thiện và bao quát hơn. Cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng; thực hiện 3 đột phá chiến lược đạt một số kết quả tích cực; năng suất lao động tăng bình quân 5,89%/năm, cao hơn mức 4,3% của giai đoạn 2011-2015 và vượt mục tiêu đề ra 5%; đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp đã có sự tiến bộ rõ rệt, tăng 45,72% so với mức bình quân 32,84% của giai đoạn 2011-2015. Cơ cấu ngành công nghiệp , nông nghiệp chuyển dịch đúng hướng và tích cực; xây dựng nông thôn mới vượt mục tiêu.

Khu vực kinh tế tư nhân có bước phát triển; các lĩnh vực khoa học và công nghệ, lao động, việc làm đạt một số kết quả nhất định. Tỷ trọng lao động nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm mạnh từ 41,6% năm 2016 xuống 33,1% năm 2020; tỷ lệ lao động qua đào tạo được cải thiện. Phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội đạt được nhiều kết quả quan trọng; khoảng cách bất bình đẳng giới được thu hẹp dần; chính sách, chế độ ưu đãi với người có công; an sinh xã hội tiếp tục được bảo đảm; giảm nghèo đi vào thực chất hơn; thu nhập bình quân đầu người tăng 8,5%/năm.

Cần tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về thể chế, cơ chế, chính sách, tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi

Đối với dự kiến Kế hoạch phát triển KTXH giai đoạn 2021-2025, theo Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Vũ Hồng Thanh, Uỷ ban cơ bản đồng tình với các nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu mà Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng đã nêu trong Báo cáo; đồng thời đề nghị Chính phủ cần bám sát Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, tập trung vào một số vấn đề sau:

Cần định cụ thể thời hạn, lộ trình thực hiện để phấn đấu hoàn thành các nhiệm vụ quan trọng như quy hoạch thuộc hệ thống quy hoạch quốc gia; xử lý dứt điểm cơ cấu lại các ngân hàng yếu kém, các dự án thua lỗ, kém hiệu quả thuộc ngành công thương, các dự án đầu tư hạ tầng thuộc ngành giao thông, đường sắt đô thị.

Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển; thực hiện 3 đột phá chiến lược; hoàn thiện hệ thống pháp luật; tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về thể chế, cơ chế, chính sách tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi; chú trọng công tác tổ chức thực hiện, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật; khắc phục triệt để việc nợ đọng văn bản; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát. Sửa đổi, bổ sung pháp luật về ngân sách nhà nước và thuế; quản lý chặt chẽ các quỹ ngoài ngân sách; cắt giảm mạnh chi thường xuyên, nhất là chi hành chính.

Xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật về quản lý đất đai, thị trường bất động sản, quản lý tài chính cho các đô thị lớn; quản lý, sử dụng nguồn thu; cơ chế kiểm soát vốn và quản trị doanh nghiệp nhà nước; quản lý, sử dụng hiệu quả tài chính công, tài sản công; các quy định pháp lý về hộ kinh doanh.

Tổng kết, đánh giá cơ chế xã hội hóa, nâng cao chất lượng dịch vụ sự nghiệp công lập. Hoàn thiện chính sách thương mại; khai thác có hiệu quả các hiệp định thương mại tự do, tiếp tục mở rộng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu.

Thức hiện nghiêm túc quy định của pháp luật về đầu tư công, làm tốt công tác chuẩn bị đầu tư. Xử lý dứt điểm nợ đọng xây dựng cơ bản; cơ cấu lại nợ, xử lý nợ xấu phát sinh từ các dự án BOT, BT giao thông. Xây dựng khung chính sách, pháp luật hướng tới chính phủ số; đưa vào khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu quốc gia. Xây dựng, thử nghiệm, hoàn thiện khung khổ pháp lý cho các mô hình kinh doanh mới ứng dụng công nghệ cao.

Tập trung nguồn lực nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ trong phòng, chống dịch, đẩy nhanh thực hiện, triển khai chiến lược vắc-xin. Hoàn thiện chính sách, pháp luật về dân số gắn với xây dựng gia đình hạnh phúc. Xử lý dứt điểm tồn đọng về xác nhận, công nhận người có công với cách mạng. Bảo vệ, chăm sóc, phát triển hệ thống dịch vụ y tế cho người cao tuổi. Tăng cường giám sát, kiểm tra việc thực hiện chính sách, pháp luật về trẻ em; định hướng thông tin cho thanh niên, trẻ em trên môi trường mạng.

Phát huy mạnh mẽ giá trị văn hoá, con người Việt Nam và sức sáng tạo của mỗi cá nhân; đổi mới quản lý hoạt động văn hoá, quan tâm xây dựng các chuẩn mực văn hoá, đạo đức con người Việt Nam, phát triển công nghiệp văn hoá. Xây dựng, triển khai Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam. Thúc đẩy phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; đẩy mạnh xây dựng thương hiệu hàng Việt Nam. Tăng cường công tác bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ, bảo hộ nhãn hiệu, thương hiệu sản phẩm nông nghiệp; xây dựng và phát triển các trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Duy trì xếp hạng về chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu thuộc nhóm 03 nước dẫn đầu ASEAN.

Đầu tư xây dựng, phát triển, quản lý quy hoạch đô thị theo hướng đồng bộ, thông minh, xanh, sử dụng hợp lý, hiệu quả tài nguyên và nguồn lực, hài hoà giữa bảo tồn và phát triển. Đẩy mạnh cơ cấu lại nông nghiệp, phát triển kinh tế gắn với xây dựng nông thôn mới và xu hướng phát triển đô thị hóa nông thôn. Tăng cường năng lực hệ thống hạ tầng ứng phó với biến đổi khí hậu; thực hiện hiệu quả các mục tiêu phát triển bền vững theo Chương trình Nghị sự 2030 của Liên Hợp quốc; thực hiện theo lộ trình cắt giảm phát thải vào năm 2030 theo cam kết.

Hoàn thiện thể chế và cơ chế quản lý giáo dục theo hướng hiện đại; nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý; phát triển cơ sở giáo dục đại học chất lượng cao; nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ… Tiếp tục nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, phát triển mạng lưới bệnh viện vệ tinh; khuyến khích hợp tác công tư, đầu tư tư nhân, cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh theo yêu cầu; phát triển mô hình bác sỹ gia đình; tăng cường đào tạo, đào tạo lại, luân phiên cán bộ y tế, chuyển giao kỹ thuật cho tuyến dưới.

Đổi mới mạnh mẽ lề lối, phương thức làm việc các cơ quan hành chính nhà nước; xử lý hồ sơ công việc trên môi trường mạng. Phấn đấu đến năm 2025 thuộc nhóm 04 nước dẫn đầu ASEAN trong xếp hạng Chính phủ điện tử. Thúc đẩy phát triển, nghiên cứu, ban hành quy chế phối hợp điều hành các vùng, liên vùng; phát huy vai trò động lực của các vùng kinh tế trọng điểm, các cực tăng trưởng, tạo ra các vùng động lực mới.

Kiện toàn tổ chức bộ máy hành chính nhà nước; xây dựng và phê duyệt quy hoạch tổng thể đơn vị hành chính; mô hình tổ chức chính quyền đô thị trên phạm vi cả nước; đánh giá kết quả thực hiện các chính sách đặc thù cho các địa phương; cơ cấu lại, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Sớm triển khai thực hiện cải cách chính sách, chế độ tiền lương. Cụ thể hóa quy định pháp luật về bảo vệ cán bộ đổi mới sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Tiếp tục đấu tranh phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; xử lý nghiêm các vụ án kinh tế, tham nhũng; ngăn chặn các hành vi nhũng nhiễu, gây phiền hà người dân và doanh nghiệp; tăng cường đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm; khắc phục những hạn chế, tác động tiêu cực của mạng xã hội, đối phó hiệu quả với những thách thức an ninh sinh học, an ninh phi truyền thống. Tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo hoạt động đúng quy định; phòng ngừa, đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo.

Phát huy các lợi thế chính trị, đối ngoại để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân. Làm tốt công tác bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài và tranh thủ tối đa nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài. Quan tâm phát triển KTXH gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng biên giới, vùng biển, hải đảo./.

Khánh Vy

Xem thêm »