Kiểm toán nhà nước
State audit office of VietNam
(BKTO) - Sáng 10/7, Báo Kiểm toán tổ chức Tọa đàm với chủ đề “Kiểm toán nhà nước đồng hành nâng cao hiệu quả đầu tư công”. Sự kiện được phát trực tiếp trên nền tảng Báo điện tử Kiểm toán (baokiemtoan.vn), kênh Youtube và Fanpage của Báo.

Tọa đàm có sự tham gia của hai diễn giả:
(1) TS. Nguyễn Đức Kiên - nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội (nay là Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội), nguyên Tổ trưởng Tổ Tư vấn Kinh tế của Thủ tướng Chính phủ;
(2) Ông Lại Xuân Nghị - Phó Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước chuyên ngành IV.
MC Hoàng Long giới thiệu Tọa đàm
Xin kính chào quý vị khán giả. Thưa quý vị và các bạn!
Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Kết luận số 18-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV đều xác định phát triển đồng bộ, hiện đại hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội là một trong ba đột phá chiến lược và là nhiệm vụ trọng tâm của giai đoạn 2026 - 2030.
Với quy mô khoảng 8,22 triệu tỷ đồng, kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030 không chỉ đặt ra bài toán giải ngân mà còn là bài toán hiệu quả đầu tư. Khi dòng vốn ngày càng lớn, yêu cầu đặt ra là phải đo đếm được giá trị kinh tế - xã hội mà mỗi dự án tạo ra.
Trong bối cảnh đó, vai trò của các cơ quan thanh tra, kiểm toán, đặc biệt là Kiểm toán nhà nước (KTNN), ngày càng trở nên quan trọng. Vậy, KTNN đang đóng vai trò như thế nào trong việc bảo đảm hiệu quả đầu tư công, tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế? Kết quả kiểm toán đã đạt được thời gian qua là gì? Và hoạt động kiểm toán cần tiếp tục đổi mới ra sao để đồng hành cùng giai đoạn phát triển hạ tầng với quy mô lớn chưa từng có như hiện nay?
Để cùng trao đổi, phân tích và làm rõ những vấn đề này, Báo Kiểm toán tổ chức Tọa đàm: “Kiểm toán nhà nước đồng hành nâng cao hiệu quả đầu tư công”
Phát Phóng sự Tọa đàm: “Kiểm toán dự án đầu tư công: Nhận diện bất cập, lượng hóa hiệu quả”
MC: Thưa quý vị, phóng sự vừa rồi đã phần nào phản ánh những bất cập tại các dự án đầu tư công được KTNN chỉ ra qua kiểm toán. Vì sao những bất cập này vẫn chưa được khắc phục triệt để và KTNN cần làm gì để góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư công trong thời gian tới?
Để làm rõ hơn những nội dung này, ngay bây giờ xin phép được trò chuyện cùng 2 vị khách mời.
MC: Phóng sự vừa rồi phản ánh tình trạng nhiều dự án đầu tư công chậm tiến độ, phải điều chỉnh tăng tổng mức đầu tư. Từ thực tiễn kiểm toán, ông có thể cho biết những nguyên nhân chính dẫn đến thực trạng này?

Ông Lại Xuân Nghị trả lời: Đối với hoạt động của KTNN, trong những năm qua, KTNN đã đóng góp rất nhiều cho công tác quản trị công của đất nước. Qua kiểm toán, KTNN đã phát hiện, đánh giá nhiều nội dung còn tồn tại. Tuy nhiên, theo tôi, trước hết cũng cần nhìn nhận một cách khách quan rằng trong giai đoạn vừa qua, đất nước đã đạt được nhiều thành tựu trong quá trình phát triển, tương ứng với tiềm lực của đất nước trong từng thời điểm, nền kinh tế đã đạt được những kết quả rất tốt. Chính vì vậy, đất nước mới có được cơ đồ như ngày hôm nay.
Tuy nhiên, đối với các dự án thì vẫn còn những tồn tại không thể tránh khỏi. Theo tôi, một trong những nguyên nhân đầu tiên là trong quá trình phát triển đất nước đó là chúng ta vừa xây dựng vừa hoàn thiện thể chế. Điều này dẫn đến việc chúng ta chưa thể ngay trong một thời điểm hoàn thiện đầy đủ một hệ thống đồng bộ như các nước tiên tiến trên thế giới, vốn có lịch sử phát triển lâu đời.
Trong khi đó, sau quá trình xây dựng và phát triển đất nước, chỉ trong một thời gian rất ngắn, chúng ta đã thực hiện được một khối lượng công việc rất lớn. Chính vì vậy, những bất cập về cơ chế, chính sách; sự thiếu hệ thống, thiếu đồng bộ, thiếu các tiêu chuẩn kỹ thuật là điều khó tránh khỏi. Điều đó sẽ dẫn đến một số hệ quả có liên quan. Tôi cho rằng đây là một nguyên nhân khách quan.
Về nguyên nhân chủ quan, đối với một số dự án chậm tiến độ, chúng ta cũng phải nhìn nhận trong bối cảnh lịch sử phát triển và thực tế việc sở hữu đất đai. Trước đây, chúng ta phát triển từ làng xã đi lên; việc sở hữu đất đai cũng như quá trình đô thị hóa là chuyển từ mô hình làng xã sang đô thị hiện đại. Chính vì vậy, công tác thông tin, dữ liệu về đất đai của chúng ta còn rất hạn chế. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến khó khăn trong giải phóng mặt bằng. Nói đến giải phóng mặt bằng thì phải nhìn vào thông tin, dữ liệu phục vụ giải phóng mặt bằng. Hiện nay, chúng ta đã và đang thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng như số hóa các tài liệu. Nếu việc này được làm sớm hơn thì công tác giải phóng mặt bằng cũng sẽ tốt hơn.
Thứ hai, về công tác chuẩn bị đầu tư, theo tôi, hiện nay, đối với các dự án lớn, dự án trọng điểm, đã có rất nhiều chuyên gia, nhà khoa học, các ban quản lý dự án chuyên nghiệp thực hiện khá tốt công việc này. Tuy nhiên, đối với một số dự án nhỏ, kinh nghiệm, tính chuyên nghiệp cũng như trình độ ở một số cấp vẫn chưa đồng đều; trong quá trình phát triển đất nước, chúng ta chưa thể ngay lập tức có được đội ngũ giỏi đồng đều tại tất cả các cơ sở. Do đó, công tác chuẩn bị đầu tư cũng có thể dẫn đến những tồn tại, khiến dự án bị chậm hoặc việc thẩm định, đánh giá chưa chính xác. Từ việc thẩm định, đánh giá chưa chính xác, cộng với việc chưa chuẩn bị đầy đủ nguồn lực trong khi nguồn lực còn hạn chế, tôi cho rằng đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến dự án chậm tiến độ.
Ngoài ra, qua thông tin báo chí, truyền thông, chúng ta cũng thấy rằng còn nhiều bất cập xuất phát từ chính công tác của một bộ phận cán bộ, khi họ chưa thực hiện đầy đủ, chuẩn xác trách nhiệm của mình. Bên cạnh đó, tôi nghĩ còn rất nhiều nguyên nhân khác trong từng bối cảnh lịch sử, từng giai đoạn. Ví dụ, ở giai đoạn này, công tác vật liệu xây dựng cũng là một vấn đề cần quan tâm vì nó có tác động đến tiến độ và hiệu quả dự án.
Đó là một số nội dung cơ bản mà chúng tôi nhận thấy qua kiểm toán. Đối với KTNN, trong giai đoạn vừa qua, KTNN cũng đã phát hiện và kiến nghị sửa đổi rất nhiều cơ chế, chính sách để góp phần hoàn thiện thể chế, hệ thống quy định pháp luật, cũng như hoàn thiện các quy định, chủ trương của Đảng và việc tổ chức thực hiện của các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương.
MC: Thưa TS. Nguyễn Đức Kiên, ngoài những nguyên nhân mà ông Nghị vừa nêu, dưới góc nhìn của một chuyên gia kinh tế, ông nhận định gì thêm về vấn đề này?

TS. Nguyễn Đức Kiên trả lời: Tôi xin bình luận thêm về câu trả lời của ông Lại Xuân Nghị. Bản thân tôi là một người làm công tác xây dựng pháp luật nhiều năm, hiện bây giờ cũng đang tiếp tục làm công tác nghiên cứu, tôi thấy một điểm mới mà đội ngũ cán bộ, trong đó có những người như anh Nghị là đại diện, có một tư duy mới. Tư duy mới ở đây là nhận thức được bối cảnh của đất nước, là chuyển đổi từ một nền kinh tế kế hoạch hóa sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Vì thế cho nên tất cả các thể chế, các văn bản pháp quy luôn ở trong trạng thái động để phù hợp với thực tế.
Chính những người làm công tác kiểm toán nhận thức được vấn đề như thế nên họ sẽ luôn chia sẻ được những vấn đề đã diễn ra trong thực tế cuộc sống. Đấy là một điều mà các doanh nghiệp và các địa phương khi sử dụng vốn đầu tư công, họ trông chờ sự chia sẻ cùng với khó khăn thực tế của họ.
Thứ hai, như ông Nghị đã nêu khái quát, trong quá trình chuyển đổi, chúng ta chưa có được bộ dữ liệu về đất đai. Cho nên khi gặp đến vấn đề giải phóng mặt bằng, chúng ta gặp khó khăn khi giải quyết các vấn đề về lợi ích kinh tế với người dân. Theo Hiến pháp, đất đai là sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện quản lý. Nhưng quản lý mà không có số liệu thì rất khó thuyết phục. Đấy cũng là những cái yếu tố để bổ sung thêm.
Thứ ba, ông Nghị cũng đã nói về nội dung này, nhưng tôi xin nhấn mạnh thêm: Vật liệu xây dựng đang là một trong những vấn đề quan tâm nhất.
Ngay từ giai đoạn 2014–2015, khi bắt đầu triển khai tuyến đường cao tốc Bắc – Nam phía Đông, chúng tôi đã nhận thấy vật liệu xây dựng sẽ là vấn đề nóng nhất trong quá trình đầu tư công của đất nước. Tuy nhiên, trong suốt thời gian đó, chúng ta tập trung sửa Luật Khoáng sản và Luật Tổ chức chính quyền địa phương nên chưa xử lý được triệt để vấn đề này.
Đến tháng 4/2021, khi Thủ tướng Chính phủ vừa nhận nhiệm vụ mới được ba tuần, đã phải ký ngay một quyết định rất cấp bách: tất cả các mỏ vật liệu tại những địa phương có công trình trọng điểm quốc gia đi qua phải ưu tiên cung ứng cho các công trình trọng điểm quốc gia trước, sau đó mới được cung ứng cho các công trình của địa phương.
Qua đó có thể thấy, ngay từ nhiệm kỳ đầu tiên của Chính phủ và Quốc hội khóa XIV, chúng ta đã nhận diện được vấn đề và đã có những chỉ đạo rất quyết liệt. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân nên đến nay chúng ta vẫn chưa xử lý được triệt để vấn đề này.
Thưa ông Kiên, một bất cập khác được đề cập trong phóng sự, đó là nhiều công trình đầu tư công đã hoàn thành nhưng vẫn chưa phát huy hiệu quả do thiếu tính đồng bộ, liên thông. Theo ông, thực trạng này phản ánh điều gì trong công tác quy hoạch và quản lý đầu tư công hiện nay?
TS. Nguyễn Đức Kiên trả lời: Thực ra, khi làm quy hoạch, các nhà quy hoạch của Việt Nam đã nhận được sự hỗ trợ của các chuyên gia quốc tế. Trước đây là chuyên gia của Cộng hòa Dân chủ Đức, Liên bang Xô Viết; về sau, điển hình trong lĩnh vực giao thông, chúng ta nhận được sự tài trợ của Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) cho nghiên cứu tổng quan về giao thông vận tải Việt Nam.
Tuy nhiên, như ông Nghị đã đề cập, nguồn lực của đất nước có hạn, trong khi nhu cầu phát triển lại rất lớn, nhưng chúng ta chưa tìm ra được biện pháp phù hợp để giải quyết mâu thuẫn đó. Vì vậy, đến nay, những người trực tiếp tham gia thi công cầu Thăng Long như chúng tôi không còn nhiều, nhưng nhìn lại vẫn thấy rất rõ câu chuyện quy hoạch và nguồn lực thực hiện.
Quy hoạch cầu Thăng Long được lập từ những năm 1970. Tuyến đường sắt vành đai của Thủ đô mà hiện nay Vingroup đang đề xuất thực hiện cũng đã được chúng tôi lập từ những năm 1980. Tuy nhiên, khi hoàn thành cầu Thăng Long, tuyến kết nối lên sân bay Nội Bài vẫn chưa có. Khi đó, chúng ta buộc phải làm tuyến rẽ phải sau cầu Thăng Long, nối sang Đông Anh để đi lên cầu Việt Trì và sân bay Nội Bài.
Ở phía Nam, chúng ta chỉ làm đến đoạn Trường Đại học Sư phạm, nối vào đường Cầu Giấy nhưng không mở rộng được đường Cầu Giấy. Vì vậy, hiệu quả khai thác của cầu Thăng Long bị hạn chế, mặc dù thiết kế của cầu Thăng Long ở thời điểm đó và đến nay, vẫn là một thiết kế điển hình về nhịp kết cấu dầm thép vượt khẩu độ lớn.
Đến nay, có thể thấy thiết kế cầu Thăng Long hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu bố trí hai khổ đường sắt 1.435 chạy ở tầng 1, xe máy và xe vận tải nhẹ chạy ở hai hành lang cánh gà, còn xe vận tải siêu trường, siêu trọng chạy trên mặt cầu phía trên. Như vậy, quy hoạch của chúng ta là có, nhưng nguồn lực để kết nối đồng bộ lại không đủ.
Tuyến đường cao tốc Thăng Long - Nội Bài phải đến khoảng năm 1995 mới được đầu tư, trong khi cầu Thăng Long đã hoàn thành từ năm 1985. Còn đoạn từ cầu Thăng Long nối theo đường Phạm Hùng đi dọc xuống thì đến khoảng năm 2000 mới thực hiện. Điều đó cho thấy quy hoạch là chúng ta có, nhưng nguồn lực để triển khai đồng bộ còn hạn chế. Vì vậy, đến nay, nhiều nội dung trong quy hoạch đường sắt vẫn chưa thể thực hiện đầy đủ.
Từ thực tế đó có thể thấy, quy hoạch của chúng ta đi trước nhưng nguồn vốn thực hiện còn hạn chế. Chính vì vậy, Kết luận số 18 của Ban Chấp hành Trung ương đã nêu rất rõ yêu cầu huy động mọi nguồn lực. Sau một thời gian thực hiện, chúng ta đã rút ra kinh nghiệm rằng đầu tư công chỉ là vốn mồi; điều quan trọng là phải huy động toàn bộ nguồn lực xã hội cùng tham gia. Những quy định về đối tác công tư cũng như các dự án theo phương thức TOD được thúc đẩy trong những năm gần đây chính là các giải pháp nhằm khắc phục những bất cập đã được nhận diện, trong đó có những vấn đề mà KTNN đã chỉ ra trong nhiều năm qua.
MC: Thế còn ông Nghị, từ thực tiễn kiểm toán các dự án đầu tư công, ông có thể cho biết những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng thiếu đồng bộ, thiếu liên thông giữa các công trình và KTNN đã có những khuyến nghị gì để khắc phục bất cập này?
Ông Lại Xuân Nghị trả lời: Trước hết, tôi hoàn toàn đồng ý với ý kiến của ông Kiên, những ý kiến của ông Kiên đã chỉ ra nhiều vấn đề lớn trong bối cảnh phát triển của đất nước. Dưới góc độ kiểm toán, tôi thấy có một số nội dung cần quan tâm thêm.
Trong thời gian qua, KTNN đã phát hiện rất nhiều bất cập, thiếu đồng bộ và đã đưa ra nhiều kiến nghị trong từng báo cáo kiểm toán. Nội dung này không phải đến bây giờ mới được đặt ra, mà trước đây, KTNN đã làm rất tốt. Đến giai đoạn hiện nay, khi Tổng Kiểm toán nhà nước Nguyễn Hữu Nghĩa về nhận nhiệm vụ tư lệnh ngành KTNN, việc chỉ đạo tiếp tục được đẩy mạnh, sâu sắc hơn, trọng tâm, trọng điểm hơn, nhằm đồng hành cùng đất nước và hệ thống chính trị trong kiến tạo phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Ở đây, tôi muốn chia sẻ thêm dưới góc độ quản lý nhà nước. Trong nhiều năm, mô hình chính quyền của chúng ta gồm Trung ương và địa phương, trong đó địa phương có ba cấp. Việc thay đổi, đổi mới mô hình này, theo tôi, là tất yếu của lịch sử. Thực tế cho thấy, khi các dự án bị chia nhỏ trong quản lý, những bất cập đã nảy sinh. Chẳng hạn, trên cùng địa bàn Hà Nội, các dự án đường sắt đô thị như Cát Linh - Hà Đông và Nhổn - ga Hà Nội có tính chất tương đồng, nhưng lại do hai ban quản lý khác nhau phụ trách: một ban do Bộ Giao thông vận tải quản lý, một ban do Hà Nội quản lý. Việc cùng một loại dự án nhưng do hai đầu mối khác nhau quản lý đã dẫn đến thiếu đồng bộ trong lựa chọn công nghệ cũng như trong tổ chức thực hiện đầu tư. Đây là một vấn đề cho thấy bất cập trong phân cấp quản lý dự án đầu tư gắn với phân cấp quản lý nhà nước trước đây.
Trước đây, việc quản lý theo lĩnh vực chủ yếu thuộc Bộ Giao thông vận tải, nhưng trong quá trình triển khai, một số nội dung chi tiết lại gắn với chính quyền địa phương. Trong khi đó, có nhiều trường hợp chính quyền địa phương chưa bám sát đầy đủ quy hoạch của Trung ương. Mặt khác, quy hoạch lại gắn với nguồn lực và gắn với phân cấp trách nhiệm của các sở, ngành. Trước đây, khi còn tách riêng Sở Tài chính và Sở Kế hoạch - Đầu tư, sự thiếu đồng bộ giữa các cấp chính quyền vẫn tồn tại; việc sáp nhập sau này phần nào đã góp phần khắc phục vấn đề đó. Nếu việc này được thực hiện sớm hơn, chẳng hạn từ 25 năm trước thì theo tôi, việc phân cấp, phân quyền giữa bộ, ngành và địa phương, cũng như giữa các sở, ngành, có thể đã tạo được sự thống nhất, đồng bộ cao hơn.
Chính từ sự thống nhất, đồng bộ đó, chúng ta mới có thể hình thành được một tổng thể chung, tránh tình trạng Trung ương đầu tư các dự án lớn, địa phương đầu tư các dự án nhỏ nhưng hai cấp lại không gắn kết với nhau. Trong khi đó, ưu tiên phát triển của từng địa phương, kể cả trong mô hình chính quyền huyện, xã trước đây, cũng rất khác nhau. Điều đó dẫn đến tình trạng không đồng bộ giữa các cấp chính quyền, kéo theo không đồng bộ trong quản lý các dự án đầu tư. Người thực hiện dự án này không nắm được dự án kia đang triển khai như thế nào, từ đó tạo ra độ vênh giữa các cấp và ảnh hưởng đến tính đồng bộ chung.
Ngoài ra, thực tế trong quá trình triển khai các dự án cho thấy có tình trạng quá tập trung vào mục tiêu của từng dự án riêng lẻ mà chưa gắn đầy đủ với mục tiêu tổng thể, hoặc chưa ưu tiên đúng mức cho tổng thể. Theo tôi, điều này cũng xuất phát từ điều kiện nguồn lực của đất nước trong từng giai đoạn, khi mỗi cấp có những ưu tiên phát triển khác nhau. Nếu cùng một con tàu nhưng lại có nhiều hướng đi khác nhau thì việc đi đến đích sẽ bị ảnh hưởng, bị chậm lại hoặc kéo dài tiến độ. Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng nêu trên.
Bên cạnh đó, trước đây, chúng ta chưa có kế hoạch đầu tư công trung hạn; phải đến năm 2015 mới hình thành kế hoạch đầu tư công trung hạn. Chỉ khi có kế hoạch đầu tư công trung hạn, chúng ta mới có thể đồng bộ ngân sách trong cả một giai đoạn. Trước đó, việc tính toán chủ yếu theo từng năm, năm nào tính cho năm đó, hoặc năm trước tính cho năm sau, nên không có một kế hoạch dài hạn. Theo tôi, đây cũng là một nguyên nhân. Dù hiện nay, hạn chế này cơ bản đã được khắc phục, nhưng trong giai đoạn trước thì có lẽ vẫn chưa xử lý được triệt để.
Những gì chúng ta đang xử lý hiện nay phần nào là những vấn đề lịch sử để lại trong quá trình phát triển. Nguồn lực của chúng ta cũng có hạn. Như anh Kiên đã chia sẻ, nếu nguồn lực dồi dào thì ai cũng muốn triển khai các dự án lớn, đồng bộ, tổng thể; nhưng trong điều kiện nguồn lực hạn chế, buộc phải ưu tiên chỗ này trước, chỗ khác sau, thì những bất cập phát sinh trong quá trình triển khai là điều khó tránh khỏi.
TS. Nguyễn Đức Kiên bổ sung thêm: Trước hết, cần khẳng định rằng những đóng góp của KTNN cùng các cơ quan chức năng đã giúp chúng ta hình thành một nhận thức mới về quản lý đầu tư công so với các giai đoạn trước. Một dấu mốc quan trọng là từ Quốc hội khóa XIII, Việt Nam bắt đầu triển khai kế hoạch đầu tư công trung hạn, trong đó có sự đóng góp đáng kể từ hoạt động kiểm toán.
Các báo cáo kiểm toán trình Quốc hội có thể thấy một nghịch lý trong công tác quản lý đầu tư công, đó là tình trạng thiếu sự kết nối trong quá trình triển khai các dự án trên cùng một địa bàn. Có những dự án do trung ương thực hiện, có những dự án do địa phương đảm nhiệm, nhưng cơ chế phối hợp, tính liên thông và tính đồng bộ giữa các chủ thể chưa thực sự hài hòa, dẫn đến những bất cập kéo dài.
Đây cũng là một trong những vấn đề mà hoạt động kiểm toán đã chỉ ra, buộc các cơ quan quản lý nhà nước phải tìm giải pháp khắc phục. Tuy nhiên, đến nay mới chỉ giải quyết được một phần. Việc chuyển sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp đã góp phần tháo gỡ những vướng mắc trong phối hợp giữa các địa phương, chẳng hạn giữa các huyện trên cùng một địa bàn trước đây. Song, bài toán về sự phối hợp giữa trung ương và địa phương vẫn chưa được giải quyết triệt để.
Một vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu là mô hình tổ chức các ban quản lý dự án đầu tư công. Cần xác định liệu nên tổ chức theo hướng tập trung đội ngũ chuyên môn, phát huy thế mạnh của từng đơn vị để thực hiện dự án rồi bàn giao cho đơn vị quản lý, vận hành; hay tiếp tục duy trì cơ chế phân cấp như hiện nay. Thực tế cho thấy, có những dự án thuộc thẩm quyền của Hà Nội hoặc TP. Hồ Chí Minh thì do địa phương quyết định và tổ chức thực hiện, trong khi các dự án thuộc bộ, ngành trung ương lại do các ban quản lý dự án của bộ chủ trì. Đây là vấn đề mà kiểm toán đã phát hiện và bước đầu chỉ ra những bất cập. Tuy nhiên, cần thêm thời gian, cùng với các cơ sở khoa học và thực tiễn, để có thể kiến nghị với Đảng và Nhà nước tiếp tục cải cách bộ máy quản lý, đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý đầu tư công.
MC: Thưa ông Nghị! KTNN đang xây dựng Bộ tiêu chí kiểm toán đánh giá hiệu quả dự án đầu tư. Từ thực tiễn hoạt động kiểm toán, theo ông, cần xây dựng Bộ tiêu chí này như thế nào để bảo đảm đánh giá khách quan, toàn diện và phản ánh đúng hiệu quả thực chất của các dự án đầu tư công?
Ông Lại Xuân Nghị trả lời: Hiện nay, công tác xây dựng Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả dự án đầu tư đã được Lãnh đạo KTNN và Tổng Kiểm toán nhà nước Nguyễn Hữu Nghĩa đặc biệt quan tâm. Nội dung này cũng được Tổng Kiểm toán nhà nước chỉ đạo thường xuyên, liên tục trong các buổi họp giao ban lãnh đạo. Điều này đã tạo sự chuyển biến rất lớn đối với ngành kiểm toán trong tất cả các cấp, các ngành, từ lãnh đạo cho đến các kiểm toán viên, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong bộ máy của KTNN.
Hiện nay, KTNN đang giao KTNN chuyên ngành IV xây dựng Bộ tiêu chí này. Bộ tiêu chí này được xây dựng trên nguyên tắc căn cứ theo Hiến pháp và Luật KTNN để đảm bảo được tính độc lập của KTNN trong hoạt động kiểm toán, cũng như đảm bảo tính minh bạch, công bằng, khách quan trong việc thực hiện đánh giá. Một bộ tiêu chí để đưa ra đánh giá muốn có chất lượng thì phải dựa trên nguyên tắc rất công bằng, nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện thì mới đánh giá được hiệu quả thực chất của dự án.
Đối với mỗi tiêu chí, hiện nay, KTNN sẽ giao cho các đơn vị chuyên sâu để xây dựng theo từng tiêu chí cụ thể. Bởi vì với mỗi dự án đầu tư sẽ có một mục đích đầu tư và việc đánh giá hiệu quả đầu tư gắn với mục đích đó cũng khác nhau. Ví dụ dự án về an sinh xã hội thì phải gắn với mục tiêu an sinh xã hội, dự án về văn hóa thì phải gắn với văn hóa, dự án đầu tư mang tính chất phát triển như các dự án về đường giao thông, đường cao tốc hiện nay thì chúng ta cũng phải đánh giá với các tiêu chí đặc thù của dự án đó.
Với việc xây dựng một bộ tiêu chí đảm bảo đầy đủ, toàn diện và chuyên sâu trong từng lĩnh vực, lãnh đạo cũng đang phân cho các đơn vị chuyên môn xây dựng cụ thể để đảm bảo tính phù hợp, tránh việc một bộ tiêu chí mà áp dụng cho tất cả các loại dự án.
Tôi nói ví dụ như một dự án ở vùng núi Tây Bắc hoặc Tây Nguyên thì không thể nào đánh giá hiệu quả giống như một dự án ở vùng biển, nó sẽ có sự khác nhau. Hoặc là dự án của Tây Nguyên so với Tây Nam Bộ cũng sẽ khác nhau do đặc điểm địa hình cũng như đặc điểm phân bố dân cư khác nhau. Phong tục tập quán của miền Tây thì họ sẽ đi theo sông nước, thế còn ở ngoài miền Bắc thì chúng ta theo làng xã, theo cụm. Đặc điểm này xuất phát từ lịch sử quá trình hình thành để bảo vệ gia đình, bảo vệ đất nước. Do đó, tiêu chí xây dựng kiểm toán cũng phải gắn với sự phù hợp riêng của từng vùng miền.
Khi xây dựng, KTNN chỉ ban hành một khung tiêu chí ở cấp độ 1 và cấp độ 2. Đối với từng đoàn kiểm toán, hiện đang dự kiến thực hiện theo hướng: trên cơ sở khung tiêu chí tổng thể đó, đoàn kiểm toán sẽ xây dựng khung tiêu chí cụ thể cho từng cuộc kiểm toán, đồng thời phân cấp cho Kiểm toán trưởng phê duyệt khung tiêu chí này trước khi đưa vào áp dụng. Cách làm như vậy sẽ bảo đảm tính chính xác, đầy đủ và phù hợp với đặc thù của từng cuộc kiểm toán.
Đấy là một số nội dung tôi xin chia sẻ thêm về việc xây dựng Bộ tiêu chí kiểm toán đánh giá hiệu quả dự án đầu tư.
MC: Thưa ông Kiên! Thế giới đã có nhiều mô hình tiên tiến khi đánh giá hiệu quả của các dự án đầu tư như 3E+2 (bổ sung tiêu chí bền vững và công bằng), khung 6 tiêu chí của OECD-DAC hay cách tiếp cận kết hợp giữa “làm đúng” (hiệu lực) và “làm tốt” (hiệu quả tài chính, kinh tế, xã hội, môi trường).
Theo ông, trong điều kiện hoạt động của KTNN và bối cảnh thể chế, kinh tế của Việt Nam hiện nay, đâu là phương pháp tiếp cận phù hợp nhất để đánh giá toàn diện hiệu quả dự án đầu tư, đặc biệt với các dự án hạ tầng quy mô lớn, nhằm phản ánh đầy đủ hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường và những tác động lâu dài của dự án?
TS. Nguyễn Đức Kiên trả lời: Có thể nói, mô hình kinh tế của đất nước ta là một mô hình khá đặc thù. Thế giới chỉ có một số ít quốc gia có những nét gần tương đồng, như Trung Quốc. Có thời điểm, chúng ta cũng tham khảo một phần kinh nghiệm về đầu tư công của Triều Tiên hay cách xử lý một số vấn đề của Cuba. Tuy nhiên, con đường mà Việt Nam lựa chọn là con đường chưa có tiền lệ, chưa có quốc gia nào đi trước hoàn toàn giống như vậy. Vì thế, kinh nghiệm của các nước OECD hay của các nền kiểm toán phát triển lâu đời như Đức, Pháp vẫn rất quan trọng và chúng ta thường xuyên có trao đổi học thuật với các đơn vị này, nhưng không thể áp dụng nguyên xi.
Điểm khác biệt căn bản là mô hình kiểm toán của họ được xây dựng trên nền kinh tế thị trường, trong khi mô hình kiểm toán của chúng ta phục vụ nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là sự khác biệt tương đối rõ nét. Vì vậy, như ông Nghị đã nêu, cần phân định rất rõ: KTNN phải xây dựng một khung tiêu chí lớn; còn đối với từng dự án, từng kế hoạch kiểm toán cụ thể, trên cơ sở khung tiêu chí đó sẽ xây dựng các tiêu chí định lượng phù hợp cho từng trường hợp. Cách tiếp cận này nhằm bảo đảm tính minh bạch, tính công khai, đồng thời phản ánh được tác động đa chiều của mỗi dự án.
Một dự án không chỉ tác động đến giao thông mà còn tác động đến đời sống, thị trường và cấu trúc phát triển đô thị. Chẳng hạn, nếu có một tuyến metro từ khu vực Cổ Loa vào Hà Nội, tác động của nó không chỉ nằm ở việc rút ngắn thời gian đi lại, mà còn làm thay đổi cách nhìn về thị trường bất động sản. Khi đó, người mua nhà ở khu vực Cổ Loa sẽ không còn quan tâm quãng đường từ Cổ Loa vào Hà Nội là bao nhiêu km, mà quan tâm mất bao nhiêu phút để di chuyển. Điều này cho thấy hạ tầng đường bộ và đường sắt phải được phát triển đồng bộ, bởi tiêu chí lựa chọn nơi ở sẽ dần được tính bằng thời gian thay vì khoảng cách. Đó là sự thay đổi về nhận thức của thị trường và cũng là một trong những góc nhìn mà kiểm toán cần góp phần làm rõ để thúc đẩy tư duy mới trong xã hội.
Tương tự, khi kiểm toán dự án xây dựng một bệnh viện, ngoài các yếu tố quen thuộc như tổng mức đầu tư, thời gian vận hành, hiệu quả khai thác…, cần nhìn cả ở góc độ tác động xã hội. Như ông Nghị đã nói, đối với từng dự án, cần xây dựng các tiêu chí đánh giá định lượng; đồng thời, với các vấn đề xã hội, phải tính đến cả yếu tố định tính để cân nhắc đâu là trọng tâm cần nhấn mạnh trong đánh giá. Đây cũng là một cơ sở quan trọng trong công tác truyền thông chính sách, để trả lời cho câu hỏi: kinh tế phát triển, đất nước phát triển thì người dân được hưởng gì? Người dân có thể cảm nhận trực tiếp rằng khi có hạ tầng y tế tốt hơn, dịch vụ công tốt hơn, họ và người thân của họ được chăm sóc tốt hơn. Chính những tác động cụ thể như vậy sẽ góp phần củng cố niềm tin xã hội, tạo sự đồng thuận của người dân, kể cả trong những vấn đề khó như giải phóng mặt bằng, bởi họ nhìn thấy lợi ích thiết thực mà sự phát triển mang lại.
MC: Ngoài các phương pháp như ông vừa nêu, ông Kiên có gợi mở gì để hoạt động kiểm toán thực sự trở thành công cụ nâng cao hiệu quả đầu tư công trong giai đoạn hiện nay?
TS. Nguyễn Đức Kiên trả lời: Tôi cho rằng cần đổi mới tư duy, đổi mới nhận thức trong cách tiếp cận vấn đề kiểm toán dự án đầu tư.
Đối với đầu tư công, nếu như ở giai đoạn trước, đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư thì sang giai đoạn này, chúng tôi cần tiếp tục phát triển thêm một bước, đó là chuyển từ “dẫn dắt” sang “thu hút”, tức là “đầu tư công thu hút đầu tư tư”.
Chúng tôi cũng tham mưu với Thủ tướng cần nhìn lại giai đoạn từ năm 1988, khi Việt Nam ban hành Luật Đầu tư nước ngoài đầu tiên và tạo mọi điều kiện để thu hút các nguồn lực FDI vào Việt Nam. Chính nhờ đó, đất nước đã có một thời kỳ tăng trưởng rất nhanh, được xem là giai đoạn tăng trưởng thần kỳ.
Trong bối cảnh hiện nay, trên cơ sở những định hướng mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nêu tại phiên khai mạc Quốc hội khóa XVI và tại buổi làm việc với Ban Chiến lược, chính sách Trung ương ngày 20/5, có thể thấy rõ, chúng ta đang đổi mới nhận thức, xác định rõ hơn vai trò của các thành phần kinh tế khác trong phát triển kinh tế. Từ đó, đầu tư công sẽ mở ra những hướng đi để thu hút mạnh mẽ hơn nguồn vốn FDI và vốn từ khu vực kinh tế tư nhân, phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân của Bộ Chính trị.
Trong bối cảnh đó, tiêu chí kiểm toán đối với đầu tư công không còn chỉ dừng ở tổng mức đầu tư của dự án là bao nhiêu, mà quan trọng hơn là với một dự án, một đồng vốn nhà nước bỏ ra có thể thu hút được 3 đồng, 5 đồng hay 8 đồng vốn từ các thành phần kinh tế khác. Đây cũng là một tiêu chí cần được đặt ra trong giai đoạn 2026-2030.
Thưa hai vị khách mời, mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số của Việt Nam trong giai đoạn mới đòi hỏi từng đồng vốn đầu tư công phải được sử dụng hiệu quả và tạo sức lan tỏa cho nền kinh tế. Trong bối cảnh đó, theo hai ông, đâu là những điều kiện và giải pháp then chốt để nâng cao hiệu quả đầu tư công, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong thời gian tới?
Ông Lại Xuân Nghị trả lời: Rất cảm ơn ông Kiên đã chia sẻ những ý kiến rất xác đáng.
Đúng như ông đã nêu, chúng ta cần nhìn nhận vấn đề một cách tổng thể và rõ ràng hơn trong bối cảnh phát triển của đất nước, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay khi Việt Nam đang đặt mục tiêu tăng trưởng ở mức rất cao. Điều đó đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, từ các cơ quan nhà nước ở tất cả các cấp đến người dân và cộng đồng doanh nghiệp. Chỉ khi cả đất nước cùng hành động, cùng vận hành theo một mục tiêu chung thì mới có thể đạt được kết quả. Nếu chỉ một bộ máy vận hành, trong khi các chủ thể khác không đồng hành hoặc thiếu sự đồng bộ, thì rất khó tạo ra động lực đủ mạnh để thúc đẩy tăng trưởng.
Quan trọng hơn, chúng ta phải hướng tới tăng trưởng thực chất và bền vững, chứ không chỉ là sự gia tăng về các chỉ tiêu hay số liệu. Tôi cho rằng điều mà các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước quan tâm không đơn thuần là đạt mức tăng trưởng hai con số, mà là chất lượng của tăng trưởng. Thực chất của tăng trưởng chính là đời sống của người dân được cải thiện, thu nhập bình quân của đất nước và của mỗi người dân ngày càng được nâng cao. Đây cũng là mục tiêu mà các nghị quyết của Đảng đang hướng tới.
Theo tôi, để hiện thực hóa mục tiêu đó, thời gian qua chúng ta đã có nhiều chủ trương rất đúng và đang được triển khai hiệu quả. Có thể thấy rõ qua các nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển các vùng kinh tế. Trong giai đoạn 2021–2022, Bộ Chính trị đã ban hành các nghị quyết phát triển đối với từng vùng, qua đó định hướng phát triển đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực, phù hợp với điều kiện và lợi thế của từng vùng. Sau này, các nghị quyết mới tiếp tục được ban hành nhằm tạo ra những động lực tăng trưởng mới, đặc biệt là Nghị quyết số 57 về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, được xác định là một trong những trụ cột quan trọng của phát triển kinh tế trong giai đoạn tới.
Về khoa học và công nghệ, theo tôi, không nên chỉ hiểu là đổi mới hệ thống công nghệ thông tin hay ứng dụng các giải pháp công nghệ trong công việc hằng ngày. Điều quan trọng hơn là khoa học, công nghệ phải góp phần nâng cao năng suất và hiệu suất tổng hợp của nền kinh tế. Chỉ khi đổi mới công nghệ, năng suất lao động mới được cải thiện; và khi năng suất được nâng lên, chúng ta mới có điều kiện để thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước một cách bền vững. Tôi cho rằng, với định hướng đã rõ ràng, chúng ta cần triển khai tốt các nghị quyết của Đảng cũng như chủ trương, chính sách của Nhà nước.
Đối với KTNN, chúng tôi cũng luôn xác định phải đồng hành cùng sự phát triển của đất nước. Việc đánh giá tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả không phải đến bây giờ KTNN mới thực hiện, mà đã được triển khai từ nhiều năm trước. Nội dung này cũng đã từng bước được thể chế hóa trong các chuẩn mực, quy trình nghiệp vụ và Luật Kiểm toán nhà nước các năm 2015, 2019; đồng thời đang tiếp tục được nghiên cứu, hoàn thiện trong quá trình sửa đổi pháp luật hiện nay.
Trên thực tế, các báo cáo kiểm toán đều đã có nội dung đánh giá về tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả. Tuy nhiên, để nâng tầm chất lượng đánh giá, chúng ta vẫn còn thiếu một hệ thống công cụ và bộ tiêu chí thống nhất. Việc xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả các dự án đầu tư không nhằm tạo thêm thủ tục hay gây khó khăn cho các cơ quan, đơn vị, mà nhằm hình thành một công cụ quản trị để toàn ngành, toàn bộ hệ thống và cả đất nước cùng hướng tới những chuẩn mực chung, qua đó nâng cao chất lượng quản lý và hiệu quả phát triển.
Đây cũng là cách để Kiểm toán nhà nước đồng hành với Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương trong quá trình phát triển. Khi được áp dụng thống nhất, bộ tiêu chí này sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa, thúc đẩy sự đồng bộ trong quản lý và điều hành ở tất cả các cấp chính quyền.
Về lâu dài, các địa phương cũng cần xây dựng và áp dụng các tiêu chí, tiêu chuẩn phù hợp trên cơ sở khung thống nhất của quốc gia. Khi đó, chúng ta sẽ từng bước hình thành một hệ thống dữ liệu quản trị thống nhất trên phạm vi cả nước. Nếu được tích hợp trên nền tảng công nghệ thông tin, dữ liệu từ cấp xã, cấp tỉnh đến Trung ương sẽ được cập nhật theo cùng một hệ thống tiêu chí. Lãnh đạo Đảng, Nhà nước khi cần chỉ cần truy cập hệ thống là có thể theo dõi bức tranh tổng thể của cả nước, đồng thời kết nối với dữ liệu của KTNN để phục vụ công tác đánh giá. Khi đó, việc đánh giá hiệu quả đầu tư sẽ dự
TS. Nguyễn Đức Kiên trả lời: Rất cảm ơn ông Lại Xuân Nghị trong phát biểu vừa rồi. Tôi có may mắn là cả 3 Luật KTNN, tôi đều tham gia chủ trì, phản biện và thẩm tra. Cho nên, những đánh giá, ghi nhận tích cực từ phía anh em - những đối tượng chịu sự điều chỉnh trực tiếp của Luật - đã chứng tỏ rằng, những người làm công tác xây dựng pháp luật đã nắm bắt được hơi thở của cuộc sống. Nói như các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, chúng ta đã đưa được nhịp độ năng động của cuộc sống vào trong Luật, để cho Luật có sức sống hơn và có tính chất lan tỏa hơn.
Ở đây, với tư cách là một người làm công tác nghiên cứu và cũng đã đồng hành cùng ngành KTNN nhiều năm, tôi muốn nói lên mong muốn của cá nhân tôi, cũng như của các đồng chí lãnh đạo địa phương và doanh nghiệp nhà nước đối với kiểm toán.
Trước hết, chúng tôi mong muốn KTNN phải là bạn đồng hành cùng địa phương, cùng doanh nghiệp trong quá trình phát triển. Để làm sao, chúng ta cùng nhau phát hiện ra những vấn đề, những bất cập, từ đó kịp thời kiến nghị theo thẩm quyền của mình với các cơ quan chức năng để sửa đổi hệ thống quy định một cách đồng bộ.
Chỉ lấy một ví dụ thế này, khi KTNN nói về dữ liệu đất đai thì rất mong các đồng chí phải kiến nghị làm sao xây dựng được những bộ dữ liệu về đất đai đồng bộ ngay từ cấp xã. Những kiến nghị đấy, đến bây giờ mới làm thì nó sẽ hơi vượt quá khung đầu tư công trung hạn, thì kiến nghị Quốc hội, kiến nghị Chính phủ xem xét bổ sung như thế nào, thì đấy là phần việc của anh em quản lý nhà nước ở địa phương.
Lấy một ví dụ cụ thể, khi KTNN nói về dữ liệu đất đai thì điều mong muốn nhất là các đồng chí phải kiến nghị làm sao xây dựng được hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai đồng bộ ngay từ cấp xã. Đây là nền tảng rất quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Tuy nhiên, nếu triển khai ở thời điểm hiện nay thì yêu cầu này có thể vượt quá phạm vi của kế hoạch đầu tư công trung hạn đã được phê duyệt. Vì vậy, có thể kiến nghị Quốc hội, Chính phủ xem xét cơ chế, nguồn lực và phương án bổ sung phù hợp để triển khai.
Đối với doanh nghiệp, điều họ mong muốn KTNN không chỉ đồng hành, mà còn phát huy vai trò ở một tầm cao hơn, đó là góp phần bảo vệ cán bộ. Như ông Nghị đã trao đổi, trong bối cảnh chuyển đổi và phát triển rất nhanh hiện nay, nhiều quy định hôm nay có thể còn phù hợp nhưng đến ngày mai có thể đã bộc lộ những hạn chế, không còn theo kịp thực tiễn. Trong khi đó, thực tiễn không chờ chúng ta hoàn thiện thể chế. Có những công việc cần phải quyết định ngay, trong khi quy định chưa kịp sửa đổi, bổ sung. Chính trong những trường hợp như vậy, KTNN cần phát huy vai trò của mình với tư cách là một tiếng nói khách quan, công tâm, góp phần bảo vệ những cán bộ dám đổi mới, dám hành động vì lợi ích chung.
Chiều hôm qua, Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang, thay mặt Chính phủ, đã trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề xuất đưa nội dung về cơ chế không hình sự hóa ra xem xét tại Kỳ họp bất thường của Quốc hội dự kiến diễn ra trong tháng 8.
Theo đề xuất, có sáu tiêu chí để xem xét không hình sự hóa, không truy tố hoặc không quy trách nhiệm hình sự đối với những người thực hiện nhiệm vụ nhưng xảy ra sự cố, trong đó có các hoạt động nghiên cứu khoa học và ứng dụng. Tiêu chí đầu tiên là người thực hiện không có hành vi tham ô, tham nhũng và không gây hậu quả nghiêm trọng.
Tôi cũng mong muốn KTNN sẽ đồng hành chặt chẽ hơn với các cơ quan trong khối nội chính. KTNN không phải là cơ quan thuộc khối nội chính, nhưng đây là một thiết chế quan trọng, có thể góp phần bảo vệ những cán bộ, công chức làm đúng, làm vì lợi ích chung, để họ yên tâm thực hiện nhiệm vụ. Khi đó, vai trò của KTNN sẽ được khẳng định rõ nét hơn, không chỉ trong việc giám sát, kiểm tra mà còn góp phần tạo dựng môi trường làm việc minh bạch, công bằng.
MC: Trân trọng cảm ơn những trao đổi, chia sẻ của hai vị khách mời trong chương trình hôm nay.
Thưa quý vị và các bạn!
Nâng cao hiệu quả đầu tư công, siết chặt kỷ luật, kỷ cương tài chính và phòng, chống thất thoát, lãng phí là yêu cầu xuyên suốt trong quản lý, sử dụng nguồn lực quốc gia. Đặc biệt, trong bối cảnh Việt Nam đang triển khai làn sóng đầu tư hạ tầng quy mô lớn chưa từng có, hiệu quả của mỗi dự án không chỉ được đo bằng khối lượng công trình hoàn thành hay tỷ lệ giải ngân, mà quan trọng hơn là giá trị kinh tế - xã hội tạo ra, khả năng kết nối các không gian phát triển, sức lan tỏa đối với tăng trưởng và những lợi ích bền vững mang lại cho đất nước.
Trong tiến trình đó, KTNN tiếp tục khẳng định vai trò là cơ quan kiểm tra, giám sát, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và phòng ngừa thất thoát, lãng phí ngay từ quá trình triển khai dự án.
Năm 2026, KTNN sẽ lựa chọn kiểm toán, đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của một số dự án quan trọng. Theo định hướng Kế hoạch kiểm toán năm 2027, KTNN cũng sẽ tiếp tục tập trung vào các cuộc kiểm toán về công tác đầu tư xây dựng và quản lý vốn đầu tư đối với các dự án quan trọng quốc gia, các dự án nhóm A.
Chúng ta kỳ vọng những cuộc kiểm toán này sẽ không chỉ mang đến những đánh giá khách quan, toàn diện về hiệu quả đầu tư công, mà còn góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý, thúc đẩy đổi mới quản trị, sử dụng hiệu quả nguồn lực quốc gia, để mỗi đồng vốn đầu tư công thực sự trở thành động lực cho tăng trưởng cao, bền vững trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Một lần nữa xin trân trọng cảm ơn hai vị khách mời và sự quan tâm theo dõi của quý vị khán giả.
Xin chào và hẹn gặp lại!
Lượt xem: 172