Kiểm toán nhà nước
State audit office of VietNam
(sav.gov.vn) - Ngày 7/10/2026, Tổng Kiểm toán nhà nước đã ký Quyết định số 1658/QĐ-KTNN về việc ban hành Quy chế Bảo vệ bí mật nhà nước của Kiểm toán nhà nước (KTNN).

Quy chế được ban hành nhằm cụ thể hóa các quy định của pháp luật, thống nhất công tác quản lý, bảo vệ bí mật nhà nước trong toàn Ngành, đặc biệt là trong quá trình thực hiện nhiệm vụ kiểm toán, quản lý hồ sơ, tài liệu và công khai kết quả kiểm toán.
Quy định toàn diện về công tác bảo vệ bí mật nhà nước
Quy chế quy định về xác định bí mật nhà nước và độ mật; thẩm quyền ký văn bản; sao, chụp, thống kê, lưu giữ, bảo quản, vận chuyển, giao nhận, cung cấp, chuyển giao và mang tài liệu bí mật nhà nước ra khỏi nơi lưu giữ; thời hạn bảo vệ, gia hạn, điều chỉnh độ mật, giải mật và tiêu hủy tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước. Đồng thời, Quy chế quy định việc tổ chức hội nghị, hội thảo, cuộc họp có nội dung bí mật nhà nước; bảo vệ bí mật nhà nước trong hoạt động kiểm toán; trách nhiệm của các đơn vị, tổ chức, cá nhân và việc tổ chức thực hiện.
Đối tượng áp dụng gồm các đơn vị trực thuộc KTNN; công chức, viên chức, người lao động thuộc KTNN; Đoàn kiểm toán, Tổ kiểm toán và thành viên Đoàn kiểm toán, bao gồm cộng tác viên KTNN và người được trưng tập tham gia hoạt động kiểm toán.
Theo Quy chế, bảo vệ bí mật nhà nước là trách nhiệm của các đơn vị, công chức, viên chức, người lao động thuộc KTNN, cộng tác viên KTNN và người được trưng tập tham gia hoạt động kiểm toán. Việc quản lý, sử dụng bí mật nhà nước phải đúng mục đích, thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật; chủ động phòng ngừa, kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý hành vi xâm phạm bí mật nhà nước.
Công tác bảo vệ bí mật nhà nước phải gắn với yêu cầu bảo đảm tính độc lập, trung thực, khách quan của hoạt động kiểm toán và thực hiện công khai kết quả kiểm toán theo quy định của Luật Kiểm toán nhà nước. Chỉ những người được giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan trực tiếp mới được tiếp cận bí mật nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ được giao. Trách nhiệm bảo vệ bí mật nhà nước tiếp tục được duy trì sau khi cá nhân kết thúc nhiệm vụ, chuyển công tác, thôi việc hoặc nghỉ hưu cho đến khi bí mật nhà nước được giải mật.
Siết chặt quản lý, bảo quản tài liệu và an toàn thông tin
Quy chế quy định cụ thể thẩm quyền, trình tự, thủ tục xác định bí mật nhà nước, độ mật, phạm vi lưu hành và thời hạn bảo vệ; việc ký, phát hành văn bản, đóng dấu chỉ độ mật và quản lý tài liệu. Việc xác định bí mật nhà nước phải căn cứ Danh mục bí mật nhà nước thuộc lĩnh vực kiểm toán nhà nước do Thủ tướng Chính phủ ban hành.
Thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước được quy định là 30 năm đối với độ Tuyệt mật, 20 năm đối với độ Tối mật và 10 năm đối với độ Mật, tính từ ngày xác định độ mật. Việc gia hạn thời hạn bảo vệ, điều chỉnh độ mật và giải mật phải được thực hiện đúng thẩm quyền, điều kiện, trình tự, thủ tục theo quy định.
Tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước phải được thống kê, đăng ký, lưu giữ và bảo quản tại nơi an toàn; việc sao, chụp, vận chuyển, giao nhận, cung cấp, chuyển giao và tiêu hủy phải tuân thủ quy định, bảo đảm đúng đối tượng, mục đích, thẩm quyền và số lượng được phê duyệt. Các đơn vị có trách nhiệm bố trí cơ sở vật chất, phương tiện, thiết bị phù hợp phục vụ công tác bảo vệ bí mật nhà nước.
Đáng chú ý, Quy chế nghiêm cấm việc soạn thảo, lưu giữ tài liệu bí mật nhà nước trên máy tính hoặc thiết bị kết nối với mạng máy tính, mạng Internet, mạng viễn thông, trừ mạng LAN độc lập và các trường hợp được pháp luật cho phép. Việc sử dụng máy tính, thiết bị và hệ thống thông tin để xử lý bí mật nhà nước phải đáp ứng yêu cầu về an ninh, an toàn, phòng, chống hành vi xâm phạm bí mật nhà nước.
Quy chế cũng nghiêm cấm các hành vi làm lộ, chiếm đoạt, mua, bán, cung cấp hoặc chuyển giao bí mật nhà nước trái pháp luật; đăng tải, phát tán bí mật nhà nước trên mạng Internet, mạng viễn thông; sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo hoặc công nghệ mới để xâm phạm bí mật nhà nước. Hội nghị, hội thảo, cuộc họp có nội dung bí mật nhà nước phải đáp ứng yêu cầu về địa điểm, thành phần tham dự, phương tiện, thiết bị và phương án bảo vệ.
Tăng cường bảo vệ bí mật nhà nước trong hoạt động kiểm toán
Quy chế quy định cụ thể việc bảo vệ bí mật nhà nước trong toàn bộ quá trình kiểm toán, từ khảo sát, thu thập thông tin, lập kế hoạch kiểm toán đến thực hiện kiểm toán, lập, thẩm định, xét duyệt, phát hành báo cáo kiểm toán, công khai kết quả kiểm toán và quản lý, lưu trữ hồ sơ kiểm toán.
Trước khi triển khai cuộc kiểm toán, Trưởng Đoàn kiểm toán có trách nhiệm phổ biến, quán triệt các quy định về bảo vệ bí mật nhà nước đến toàn thể thành viên Đoàn kiểm toán; phân công thành viên theo dõi công tác này và quản lý tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước trong suốt quá trình thực hiện nhiệm vụ.
Việc yêu cầu đơn vị được kiểm toán cung cấp tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước chỉ được thực hiện khi thực sự cần thiết, phục vụ mục tiêu, nội dung, phạm vi, rủi ro và trọng yếu kiểm toán. Yêu cầu cung cấp phải bằng văn bản, nêu rõ căn cứ pháp lý, tài liệu cần cung cấp, mục đích và phạm vi sử dụng. Tài liệu tiếp nhận phải được lập biên bản hoặc phiếu giao nhận, quản lý, bảo quản an toàn và hoàn trả đầy đủ khi kết thúc cuộc kiểm toán tại đơn vị.
Đối với nhật ký kiểm toán, biên bản kiểm toán, bằng chứng kiểm toán, dự thảo báo cáo kiểm toán và các tài liệu khác có chứa bí mật nhà nước, việc xác định độ mật, quản lý, lưu hành, phát hành và bàn giao phải thực hiện theo đúng quy định. Nội dung thuộc bí mật nhà nước không được cung cấp, tiết lộ cho tổ chức, cá nhân không có trách nhiệm khi chưa được người có thẩm quyền cho phép.
Trước khi công khai báo cáo kiểm toán, kết quả kiểm toán trên Cổng thông tin điện tử KTNN, tại họp báo, trên các ấn phẩm của Ngành hoặc bằng hình thức khác, đơn vị được giao thực hiện công khai có trách nhiệm rà soát, loại trừ toàn bộ nội dung thuộc bí mật nhà nước hoặc thực hiện giải mật theo quy định. Hồ sơ kiểm toán có chứa tài liệu bí mật nhà nước phải được thống kê, bàn giao, nộp lưu và quản lý theo quy định của pháp luật.
Đề cao trách nhiệm người đứng đầu, tăng cường kiểm tra và xử lý vi phạm
Quy chế xác định rõ trách nhiệm của Tổng Kiểm toán nhà nước, các Phó Tổng Kiểm toán nhà nước, Văn phòng KTNN, Vụ Pháp chế, Cục Công nghệ thông tin, thủ trưởng các đơn vị trực thuộc, Trưởng Đoàn kiểm toán, Tổ trưởng Tổ kiểm toán, Kiểm toán viên nhà nước và các cá nhân có liên quan.
Trong đó, Văn phòng KTNN là đầu mối tham mưu tổ chức thực hiện, hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc và kiểm tra công tác bảo vệ bí mật nhà nước; phối hợp tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, tổng hợp báo cáo và tham mưu bố trí kinh phí, cơ sở vật chất phục vụ công tác này. Vụ Pháp chế có trách nhiệm phổ biến, quán triệt các quy định pháp luật liên quan; Cục Công nghệ thông tin bảo đảm hạ tầng kỹ thuật, an toàn thông tin và tham mưu các giải pháp công nghệ đáp ứng yêu cầu bảo vệ bí mật nhà nước.
Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc có trách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Quy chế; bố trí nơi lưu giữ, phương tiện bảo quản; phân công người thực hiện nhiệm vụ bảo vệ bí mật nhà nước và ban hành nội quy phù hợp với đặc điểm hoạt động của đơn vị. Trưởng Đoàn kiểm toán, Tổ trưởng Tổ kiểm toán và từng thành viên phải thực hiện đúng trách nhiệm được giao, kịp thời báo cáo khi phát hiện nguy cơ hoặc hành vi làm lộ, mất bí mật nhà nước.
Công tác kiểm tra được thực hiện định kỳ hằng năm hoặc đột xuất theo kế hoạch được Tổng Kiểm toán nhà nước phê duyệt. Khi xảy ra sự cố lộ, mất bí mật nhà nước, đơn vị, cá nhân liên quan phải kịp thời báo cáo, áp dụng biện pháp ngăn chặn, hạn chế thiệt hại, phối hợp xác minh nguyên nhân và khắc phục hậu quả theo quy định.
Tập thể, cá nhân có thành tích trong công tác bảo vệ bí mật nhà nước được khen thưởng; trường hợp vi phạm, tùy theo tính chất, mức độ, có thể bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Kết quả thực hiện công tác này cũng là một trong những căn cứ đánh giá, xếp loại chất lượng công chức, viên chức, người lao động và bình xét thi đua, khen thưởng của đơn vị.
Việc ban hành Quy chế Bảo vệ bí mật nhà nước của KTNN góp phần thống nhất công tác quản lý, bảo vệ bí mật nhà nước trong toàn Ngành, nâng cao trách nhiệm của các đơn vị, cá nhân, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong quản lý, sử dụng thông tin, tài liệu, bảo đảm an toàn bí mật nhà nước trong quá trình thực hiện nhiệm vụ kiểm toán.
Lượt xem: 31