Kiểm toán nhà nước
State audit office of VietNam
(sav.gov.vn) - Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa gồm 8 chương, 39 điều, đề xuất 6 nhóm chính sách nhằm phát triển hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, hỗ trợ sáng tạo và khai thác quyền sở hữu trí tuệ, phát triển nhân lực, hạ tầng, thị trường và cơ chế tài chính, ưu đãi đầu tư.

Sáng 24/10, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XVI, trình bày trước Quốc hội về dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh cho biết, đây là dự án Luật mới, được xây dựng nhằm kịp thời thể chế hóa các chủ trương của Đảng, Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, Kết luận số 18-KL/TW của Trung ương và các kết luận, chỉ đạo có liên quan của lãnh đạo Đảng, Nhà nước.
Việc xây dựng Luật cũng xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, nhằm giải phóng sức sáng tạo, khơi thông nguồn lực, tạo đòn bẩy đưa công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng mới của Đất nước.
Dự thảo luật được xây dựng dựa trên ba quan điểm chính: tiếp cận công nghiệp văn hóa theo chuỗi giá trị, phát triển công nghiệp văn hóa trở thành ngành kinh tế chiến lược của quốc gia; không quy định lại những chính sách đã có trong luật chuyên ngành, thay vào đó, bổ sung quy định đối với những khoảng trống pháp lý, tập trung làm rõ điểm mờ trong tổ chức thực thi và tháo gỡ các điểm nghẽn đã được nhận diện trong pháp luật hiện hành. Đồng thời tập trung quy định những nguyên tắc, cơ chế, chính sách then chốt thuộc thẩm quyền của Quốc hội, tạo khung pháp lý thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa, đồng thời hạn chế phát sinh thủ tục hành chính mới và tăng cường phân cấp, hậu kiểm.

Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa gồm 8 chương, 39 điều, tập trung vào 6 nhóm chính sách. Nhóm thứ nhất là hỗ trợ hạ tầng phục vụ sáng tạo và quyền sở hữu trí tuệ. Dự thảo lần đầu tiên quy định phần mềm phục vụ sáng tạo và nền tảng số hỗ trợ về quyền sở hữu trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa là hạ tầng có chức năng hỗ trợ sáng tạo, đồng thời lưu vết quá trình sáng tạo để có thể chứng minh, bảo hộ và khai thác thương mại. Dự thảo Luật cũng hướng tới tạo căn cứ pháp lý rõ ràng hơn cho việc sử dụng quyền sở hữu trí tuệ và nâng cao năng lực xác định giá trị loại tài sản này.
Dự thảo Luật còn có các nhóm chính sách thu hút, phát triển nhân lực công nghiệp văn hóa. Các nội dung trọng tâm gồm quy định khung năng lực nhân lực theo vị trí việc làm; cơ chế, chính sách đặc thù thu hút nghệ sĩ, nghệ nhân, chuyên gia; học bổng, miễn học phí, hỗ trợ sinh hoạt phí, tín dụng và đầu tư cơ sở vật chất phục vụ đào tạo.
Nhóm chính sách khác là phát triển hạ tầng công nghiệp văn hóa, thiết lập các mô hình tổ hợp sáng tạo văn hóa, cụm và khu công nghiệp sáng tạo văn hóa. Dự thảo quy định về công trình, thiết chế phục vụ công nghiệp văn hóa; cơ chế tổ chức hoạt động, sự kiện; đánh giá hiệu quả hạ tầng, sử dụng không gian công cộng và phát triển công nghiệp văn hóa trong các dự án đầu tư công trình xây dựng, hạ tầng văn hóa số.
Bên cạnh đó là chính sách phát triển hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát và phát triển sản phẩm công nghiệp văn hóa có giá trị gắn với bản sắc văn hóa Việt Nam.
Cùng với đó là các chính sách về hình thành sàn giao dịch công nghiệp văn hóa, tạo thiết chế trung gian kết nối chủ thể sáng tạo, quyền sở hữu trí tuệ, sản phẩm, nhà đầu tư và người sử dụng. Đồng thời, dự thảo Luật đề cập các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã công nghiệp văn hóa; phát triển thương hiệu quốc gia, mở rộng thị trường và thúc đẩy tiêu dùng sản phẩm công nghiệp văn hóa.
Nhóm thứ sáu là các chính sách tài chính, hỗ trợ và ưu đãi đầu tư nhằm khắc phục khoảng trống của pháp luật hiện hành, tạo động lực huy động nguồn lực xã hội, hình thành hệ sinh thái công nghiệp văn hóa và nâng cao năng lực cạnh tranh của lĩnh vực này.

Trình bày Báo cáo thẩm tra dự án Luật, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Nguyễn Đắc Vinh cho biết, Ủy ban tán thành sự cần thiết ban hành luật. Dự án luật được xây dựng theo trình tự, thủ tục rút gọn và Ủy ban ghi nhận, đánh giá cao cơ quan chủ trì soạn thảo đã chủ động xây dựng báo cáo đánh giá tác động chính sách. Tuy nhiên, đây là dự án luật được xây dựng mới, xác lập nhiều nội dung, cơ chế, chính sách đặc thù, trong đó có các quy định về ưu đãi, hỗ trợ tài chính, đầu tư tác động trực tiếp đến ngân sách nhà nước, quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trên nhiều lĩnh vực. Do đó, Ủy ban đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục rà soát, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, chỉ quy định những vấn đề có tính nguyên tắc thuộc thẩm quyền của Quốc hội, đánh giá cụ thể hơn tính khả thi của các chính sách mới, đồng thời nghiên cứu bổ sung quy định về bình đẳng giới, chính sách dân tộc, bảo vệ lao động nữ và trẻ em.
Về bố cục dự thảo luật, Ủy ban cơ bản nhất trí bố cục dự thảo luật, đồng thời đề nghị rà soát, nghiên cứu quy định đầy đủ các nội dung gắn với chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa từ sáng tạo, sản xuất, phân phối, tiêu dùng đến tái đầu tư.
Về 6 nhóm chính sách, cơ quan chủ trì thẩm tra cơ bản tán thành và đề nghị tiếp tục rà soát, hoàn thiện các chính sách ưu tiên đầu tư phát triển ngành công nghiệp văn hóa mà Việt Nam có thế mạnh, bảo đảm trọng tâm, trọng điểm, lấy chủ thể sáng tạo và doanh nghiệp làm trung tâm.
Về phát triển hệ sinh thái thử nghiệm có kiểm soát trong các ngành công nghiệp văn hóa, đề nghị rà soát quy định thống nhất về chủ thể sáng tạo, bảo đảm tính mở, bao quát cộng đồng dân cư, hộ gia đình, làng nghề. Ủy ban lưu ý không quy định nội dung ưu tiên đối với mô hình du lịch chữa bệnh do không thuộc các ngành công nghiệp văn hóa; chỉ quy định các nội dung đặc thù về thử nghiệm có kiểm soát trong các ngành công nghiệp văn hóa để tránh trùng lặp với Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; đồng thời cân nhắc kỹ lưỡng việc giao thẩm quyền quy định trình tự, thủ tục, hồ sơ, phương thức giám sát, chế độ báo cáo.
Về hỗ trợ sáng tạo, xác lập, xác định giá trị quyền sở hữu trí tuệ, Ủy ban Văn hóa và Xã hội tán thành quy định dẫn chiếu pháp luật về doanh nghiệp, tín dụng, giao dịch bảo đảm đối với góp vốn làm tài sản bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời đề nghị rà soát phương án tiếp tục khai thác quyền sở hữu trí tuệ thông qua chuyển nhượng, chuyển quyền sử dụng hoặc hình thức khai thác hợp pháp khác để thống nhất với Luật Phá sản. Bên cạnh đó, cần xem xét kỹ lưỡng việc quy định miễn trách nhiệm của thẩm định viên về giá; trường hợp giữ quy định này cần bổ sung cơ chế kiểm tra, hậu kiểm, phòng ngừa thông đồng, trục lợi.
Về nhân lực công nghiệp văn hóa, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Nguyễn Đắc Vinh cho biết cơ bản tán thành nhưng chỉ rõ việc công nhận Nghệ sĩ ưu tú, Nghệ sĩ nhân dân, Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú tại khoản 1 Điều 14 đáp ứng yêu cầu về trình độ đào tạo là chưa hợp lý, bởi đây là danh hiệu vinh dự nhà nước, khác với trình độ đào tạo theo pháp luật về giáo dục. Về giảng viên đồng cơ hữu, Ủy ban đề nghị chỉ áp dụng đối với trường hợp là Nghệ sĩ nhân dân, Nghệ sĩ ưu tú, Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú, chuyên gia được đào tạo chuyên sâu hoặc có thành tích nổi trội, đồng thời có cơ chế kiểm soát tránh lạm dụng. Cân nhắc việc mở rộng phụ cấp ưu đãi nghề đối với cán bộ quản lý giáo dục để tránh mâu thuẫn với Luật Nhà giáo, làm rõ chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao, nhân tài và giao Chính phủ quy định tiêu chí, thẩm quyền xác định.
Về hạ tầng công nghiệp văn hóa, đề nghị rà soát các quy định về thành lập, điều chỉnh cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa để thống nhất với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) và Luật Quy hoạch. Cân nhắc kỹ lưỡng thẩm quyền cho phép chấp thuận nhà đầu tư không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu đối với các dự án có vai trò hình thành hoặc dẫn dắt hệ sinh thái công nghiệp văn hóa. Rà soát tài sản công dôi dư, hình thức đối tác công tư, không gian công cộng, làm rõ lộ trình đối với 7 loại công trình thực hiện hoạt động phát triển công nghiệp văn hóa. Đặc biệt, cần nghiên cứu bổ sung quy định về chủ quyền văn hóa trên không gian mạng, cơ chế phối hợp và phân định trách nhiệm giữa cơ quan quản lý văn hóa với cơ quan quản lý an ninh mạng trong kiểm soát nền tảng xuyên biên giới, bảo vệ kho dữ liệu văn hóa số quốc gia.
Về thị trường công nghiệp văn hóa, Ủy ban Văn hóa và Xã hội cơ bản thống nhất, đề nghị tiếp tục rà soát sử dụng thống nhất các khái niệm, thuật ngữ về tác phẩm, sản phẩm lõi, sản phẩm trọng điểm, sản phẩm có bản sắc văn hóa Việt Nam cùng các tiêu chí cụ thể; đồng thời làm rõ nội hàm, điều kiện trong giao dịch tài sản,quyền tài sản đang sử dụng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.Về tài chính và hỗ trợ, ưu đãi đầu tư, cơ quan thẩm tra đề nghị làm rõ phạm vi, điều kiện bảo lãnh của Quỹ bảo lãnh tín dụng; bổ sung điều kiện bảo đảm quốc phòng, an ninh, cơ chế hậu kiểm, thu hồi ưu đãi khi nhà đầu tư nước ngoài không thực hiện cam kết. Tiếp tục rà soát các quy định ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, hoàn thuế giá trị gia tăng, xác định nguyên tắc hoặc khung, trần mức hoàn thuế, bảo đảm đồng bộ với các luật về thuế đang trình Quốc hội xem xét tại kỳ họp thứ 2.
Lượt xem: 58