Kiểm toán nhà nước
State audit office of VietNam
TÀI LIỆU GIỚI THIỆU LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM, LUẬT PHÒNG, CHỐNG RỬA TIỀN VÀ LUẬT CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng số 23/2026/QH16 được Quốc hội thông qua ngày 24 tháng 8 năm 2026. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 12 năm 2026.
I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT
Việc ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng là cần thiết nhằm tháo gỡ vướng mắc pháp lý, nâng cao năng lực điều hành của ngân hàng trung ương và siết chặt kiểm soát rủi ro tài chính. Luật được ban hành để thể chế hóa chủ trương của Đảng, điều chỉnh cơ chế tài chính của Ngân hàng Nhà nước cho phù hợp hơn với mô hình ngân hàng trung ương hiện đại và thực tiễn. Luật sửa đổi, bổ sung, khắc phục những bất cập, chồng chéo trong các quy định cũ về hoạt động của tổ chức tín dụng, quản lý ngoại hối và xử lý các vấn đề phát sinh khi sắp xếp bộ máy. Luật bổ sung các quy định giám sát dịch vụ tài sản mã hóa và kiểm soát chặt các giao dịch đáng ngờ nhằm bảo vệ hệ thống tài chính, nâng cao hiệu quả phòng, chống rửa tiền; đồng thời, tạo thêm hành lang pháp lý để phát triển các kênh dẫn vốn khác, giảm bớt áp lực và sự lệ thuộc quá mức vào nguồn vốn tín dụng ngân hàng.
II. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM, LUẬT PHÒNG, CHỐNG RỬA TIỀN VÀ LUẬT CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng (Luật số 23/2026/QH16) bao gồm 4 Điều, tập trung điều chỉnh các nội dung sau:
1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam số 46/2010/QH12 (gồm 12 khoản sửa đổi, bổ sung tại 15 điều):
- Bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn của Ngân hàng Nhà nước tại khoản 15 Điều 4 Luật số 46/2010/QH12 nhằm nâng cao năng lực quản lý nhà nước của NHNN về ngoại hối, làm cơ sở hoạch định chính sách tiền tệ và bảo đảm an toàn cán cân vĩ mô quốc gia: “15. Chủ trì lập, theo dõi, dự báo và phân tích kết quả thực hiện cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam; chủ trì lập, theo dõi và phân tích trạng thái đầu tư quốc tế của Việt Nam”.
- Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 27 Luật số 46/2010/QH12 để đồng bộ hóa quy định pháp luật với mô hình tổ chức vận hành chính quyền địa phương và thực tế hoạt động giao dịch; cập nhật quy định về việc mở tài khoản và thực hiện giao dịch của Kho bạc Nhà nước tại Ngân hàng Nhà nước sao cho sát với việc sắp xếp các đơn vị hành chính và vận hành bộ máy, cụ thể: “3. Ngân hàng Nhà nước mở tài khoản cho Kho bạc Nhà nước. Ở tỉnh, thành phố không có trụ sở của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh, việc thực hiện các giao dịch cho Kho bạc Nhà nước theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước”.
- Bổ sung Điều 31a vào sau Điều 31 Luật số 46/2010/QH12 nhằm luật hóa các quy định quản lý ngoại hối từ cấp pháp lệnh (Điều 22 của Pháp lệnh Ngoại hối số 06/2013/UBTVQH13) lên tầm luật để bảo đảm tính pháp lý cao nhất, hạn chế tình trạng "đô la hóa" và nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ quốc gia: “Trên lãnh thổ Việt Nam, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận và các hình thức tương tự khác không được thực hiện bằng ngoại hối, trừ trường hợp được phép theo quy định của luật, nghị quyết của Quốc hội hoặc theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước”.
- Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 35 Luật số 46/2010/QH12 (sửa đổi, bổ sung khoản 1 về trách nhiệm cung cấp thông tin cho Ngân hàng Nhà nước của tổ chức, cá nhân; sửa đổi, bổ sung khoản 3 về nhiệm vụ quy định chi tiết của Chính phủ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định đối tượng, quy trình, phạm vi, loại thông tin, thời hạn, kỳ hạn và phương thức cung cấp thông tin).
- Sửa đổi, bổ sung một số điều về vốn pháp định, thu, chi tài chính, kết quả tài chính, các quỹ của Ngân hàng Nhà nước, gồm: Điều 42 Luật số 46/2010/QH12 (về vốn pháp định), Điều 43 Luật số 46/2010/QH12 (Thu, chi tài chính), Điều 44 Luật số 46/2010/QH12 (Kết quả tài chính), Điều 45 Luật số 46/2010/QH12 (Các quỹ).
- Sửa đổi, bổ sung Điều 57 về quyền, nghĩa vụ của đối tượng giám sát ngân hàng nhằm nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và tuân thủ chặt chẽ các yêu cầu quản lý rủi ro của Ngân hàng Nhà nước.
- Sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 59 Luật số 46/2010/QH12 (sửa đổi, bổ sung điểm g khoản 2, bổ sung khoản 3 vào sau khoản 2) để sửa đổi, bổ sung các biện pháp xử lý của Ngân hàng Nhà nước đối với đối tượng được thanh tra, giám sát ngân hàng tuỳ theo tính chất và mức độ rủi ro của đổi tượng.
- Sửa đổi, bổ sung Điều 62 Luật số 46/2010/QH12 về kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ của Ngân hàng Nhà nước: “Ngân hàng Nhà nước thực hiện kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước”.
- Bãi bỏ khoản 3 Điều 7, khoản 2 Điều 22, khoản 5 Điều 32 và Điều 49 Luật số 46/2010/QH12 nhằm cải cách thể chế, đơn giản hóa thủ tục hành chính, loại bỏ chồng chéo thẩm quyền và tăng cường tính tự chủ, đồng bộ hệ thống pháp luật hành chính hiện đại.
2. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống rửa tiền số 14/2022/QH15 (gồm 19 khoản sửa đổi, bổ sung tại 20 điều):
- Sửa đổi, bổ sung khoản 7 Điều 3 Luật số 14/2022/QH15 nhằm tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc pháp lý và chuẩn hóa định nghĩa về "chủ sở hữu hưởng lợi" theo các chuẩn mực quốc tế, cụ thể: “7. Chủ sở hữu hưởng lợi là một hoặc nhiều cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp có quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát cuối cùng trên thực tế đối với khách hàng, bao gồm cả thỏa thuận pháp lý hoặc cá nhân mà khách hàng thực hiện giao dịch thay mặt họ”.
- Bổ sung điểm n vào sau điểm m khoản 1 Điều 4 Luật số 14/2022/QH15 nhằm đưa “Dịch vụ tài sản mã hóa” vào nhóm đối tượng báo cáo về phòng, chống rửa tiền.
- Sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 2 Điều 9 Luật số 14/2022/QH15 nhằm bổ sung cụm từ "kể cả trường hợp giao dịch chưa hoàn thành" vào nghĩa vụ nhận biết khách hàng khi có nghi ngờ, cụ thể: “c) Khi nghi ngờ khách hàng hoặc giao dịch của khách hàng hoặc các bên liên quan đến giao dịch, kể cả trường hợp giao dịch chưa hoàn thành, có liên quan đến rửa tiền”.
- Sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 10 Luật số 14/2022/QH15 (gồm sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 1, sửa đổi, bổ sung điểm e khoản 1, bổ sung khoản 4 và khoản 5 vào sau khoản 3) nhằm chuẩn hóa dữ liệu nhận biết khách hàng cá nhân (như người Việt Nam có quốc tịch, người gốc Việt chưa rõ quốc tịch), đồng bộ hóa với hệ thống định danh điện tử và các quy định pháp luật mới, giúp các tổ chức tài chính, đối tượng báo cáo khai thác dữ liệu chính xác, giảm thiểu hồ sơ giấy, tự động hóa quy trình và nâng cao hiệu quả phòng, chống rửa tiền.
- Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 12 Luật số 14/2022/QH15 nhằm cập nhật các loại giấy tờ tùy thân mới (như căn cước, căn cước điện tử, căn cước công dân hoặc hộ chiếu còn hiệu lực) và hoàn thiện quy định pháp lý về xác minh thông tin nhận biết khách hàng; giúp các tổ chức tín dụng và đối tượng báo cáo xác thực chính xác thông tin khách hàng, giảm thiểu rủi ro rửa tiền.
- Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 19 Luật số 14/2022/QH15 nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, yêu cầu đối tượng báo cáo phải nhận diện và đánh giá rủi ro rửa tiền đối với sản phẩm/dịch vụ mới hoặc ứng dụng công nghệ đổi mới, qua đó đáp ứng các tiêu chuẩn và cam kết quốc tế.
- Sửa đổi, bổ sung Điều 22 Luật số 14/2022/QH15 nhằm khắc phục các thiếu hụt pháp lý, nhằm nâng cao tính minh bạch đối với các thỏa thuận pháp lý, minh bạch hóa chủ sở hữu hưởng lợi, đáp ứng các khuyến nghị quốc tế của Lực lượng Đặc nhiệm Tài chính (FATF) và Nhóm Châu Á - Thái Bình Dương về chống rửa tiền (APG), cụ thể: Buộc bên nhận ủy thác phải thu thập và cập nhật đầy đủ thông tin chi tiết về người thụ hưởng, nhóm người thụ hưởng, người thụ hưởng tiềm năng, hoặc người giám sát trong thỏa thuận pháp lý; Bổ sung quy định yêu cầu xác định rõ thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi khi các bên liên quan trong thỏa thuận pháp lý là pháp nhân hoặc một thỏa thuận pháp lý khác, bịt kín kẽ hở che giấu nguồn gốc tiền phạm tội.
- Sửa đổi, bổ sung Điều 26 Luật số 14/2022/QH15 về “Báo cáo giao dịch đáng ngờ”, bổ sung Điều 33a vào sau Điều 33 về “Dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực tài sản mã hóa” nhằm hoàn thiện khung pháp lý để phòng, chống rửa tiền, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế của Lực lượng Đặc nhiệm Tài chính (FATF).
- Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 38 Luật số 14/2022/QH15 về trách nhiệm lưu trữ hồ sơ của tất cả khách hàng, của tất cả giao dịch của đối tượng báo cáo.
- Bổ sung khoản 3 và khoản 4 vào sau khoản 2 Điều 39 Luật số 14/2022/QH15 nhằm bảo vệ pháp lý và bảo đảm an toàn cho người thực hiện nghĩa vụ báo cáo, tố cáo, từ đó nâng cao hiệu quả phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm rửa tiền: Miễn trách nhiệm cho đối tượng báo cáo, cơ quan, tổ chức, cá nhân khi thực hiện nghĩa vụ báo cáo trung thực; Áp dụng các biện pháp bảo vệ theo pháp luật về tố cáo đối với người báo cáo, tố cáo và cung cấp thông tin.
- Bổ sung Điều 48a vào sau Điều 48; sửa đổi, bổ sung Điều 51; sửa đổi, bổ sung Điều 52; sửa đổi, bổ sung Điều 53; sửa đổi, bổ sung Điều 54; sửa đổi, bổ sung Điều 58; sửa đổi, bổ sung Điều 59 của Luật số 14/2022/QH15 về trách nhiệm tổ chức, thi hành của các bộ, ngành có liên quan: Thanh tra Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng, Bộ Tư pháp,… và bãi bỏ Điều 55, khoản 1 Điều 64 của Luật số 14/2022/QH15 nhằm phân định rõ trách nhiệm của các bộ, ngành; đảm bảo hoạt động quản lý nhà nước về phòng, chống rửa tiền liên tục và thông suốt; phù hợp mô hình tổ chức bộ máy của các cơ quan sau sắp xếp, tinh gọn.
3. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 114 của Luật Các tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15
Mục đích sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 114 Luật số 32/2024/QH15 nhằm tạo cơ sở pháp lý cho các ngân hàng thương mại thực hiện nghiệp vụ đại lý quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp, cụ thể: Bổ sung nghiệp vụ "Đại lý quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp" vào nhóm các hoạt động kinh doanh khác mà ngân hàng thương mại được phép thực hiện; Tạo điều kiện cần thiết để các ngân hàng chính thức cung cấp dịch vụ đại lý bảo đảm an toàn, minh bạch cho nhà đầu tư và tổ chức phát hành trái phiếu; Nâng cao tính chuyên nghiệp, bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người mua trái phiếu thông qua tổ chức trung gian uy tín là các tổ chức tín dụng.
IV. TỔ CHỨC THI HÀNH
Điều 4 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng số 23/2026/QH16 quy định về thời điểm có hiệu lực thi hành và việc bãi bỏ một số quy định cũ tại Pháp lệnh Ngoại hối:
- Luật chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/12/2026.
- Bãi bỏ Điều 22 và khoản 2 Điều 34 của Pháp lệnh Ngoại hối số 28/2005/PL-UBTVQH11 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Pháp lệnh số 06/2013/UBTVQH13 nhằm đảm bảo tính thống nhất đồng bộ của hệ thống pháp luật, do các quy định này không còn phù hợp với các quy định mới được luật hóa về nguyên tắc hạn chế sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam và điều chỉnh lại thẩm quyền, trách nhiệm quản lý nhà nước liên quan.
Lượt xem: 10