Đăng ký nhận tin
Thứ Ba, ngày 07/7/2026

Hoàn thiện cơ chế hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật: Bước tiến trong xây dựng hệ thống pháp luật minh bạch, dễ tiếp cận

Đang nạp audio...

(sav.gov.vn) - Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, minh bạch và khả năng tiếp cận của hệ thống pháp luật ngày càng trở nên cấp thiết. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển nhanh chóng của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL), số lượng văn bản được sửa đổi, bổ sung ngày càng lớn, dẫn đến tình trạng một văn bản có thể trải qua nhiều lần điều chỉnh, gây khó khăn cho việc tra cứu, viện dẫn và áp dụng pháp luật. Vì vậy, Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 10/6/2026 đã có nhiều nội dung đổi mới quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác hợp nhất văn bản trong giai đoạn mới.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật tại Phiên họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI. Ảnh daibieunhandan.vn

Mở rộng phạm vi, làm rõ khái niệm hợp nhất văn bản

Công tác hợp nhất VBQPPL giữ vai trò quan trọng trong việc cập nhật kịp thời các quy định pháp luật hiện hành, giúp cơ quan, tổ chức và người dân dễ dàng tiếp cận, sử dụng pháp luật. Sau hơn 14 năm thực hiện Pháp lệnh Hợp nhất VBQPPL năm 2012, nhiều kết quả tích cực đã được ghi nhận. Tuy nhiên, cùng với yêu cầu đổi mới công tác xây dựng pháp luật, đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia và hoàn thiện thể chế theo tinh thần các nghị quyết của Đảng, một số quy định của Pháp lệnh hiện hành đã bộc lộ những hạn chế, bất cập cần được sửa đổi, bổ sung.

Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật (Pháp lệnh số 01/2026/UBTVQH16, sau đây gọi là Pháp lệnh sửa đổi) đã mở rộng phạm vi điều chỉnh của hoạt động hợp nhất VBQPPL. Nếu như Pháp lệnh năm 2012 điều chỉnh việc hợp nhất đối với văn bản do các cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành thì Pháp lệnh sửa đổi đã mở rộng áp dụng đối với toàn bộ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (bao gồm trách nhiệm hợp nhất VBQPPL của chính quyền địa phương). Quy định này góp phần bảo đảm tính thống nhất trong hoạt động hợp nhất văn bản từ trung ương đến địa phương, đồng thời tạo thuận lợi cho việc tra cứu, áp dụng pháp luật.

Pháp lệnh sửa đổi đã làm rõ hơn khái niệm “hợp nhất văn bản”, cụ thể: nếu như Pháp lệnh hiện hành chỉ giới hạn ở việc đưa nội dung sửa đổi, bổ sung vào văn bản được sửa đổi, bổ sung thì Pháp lệnh sửa đổi đã mở rộng phạm vi cập nhật đối với các trường hợp đính chính, bãi bỏ một phần, hết hiệu lực một phần, tạm ngưng hiệu lực một phần hoặc công bố tiếp tục có hiệu lực một phần.

Cách tiếp cận này phản ánh đầy đủ hơn thực tiễn hoàn thiện pháp luật hiện nay, khi VBQPPL có thể được thay đổi thông qua nhiều hình thức như sửa đổi, bổ sung, đính chính, bãi bỏ một phần hoặc thay đổi hiệu lực đối với một phần nội dung. Việc mở rộng các trường hợp phải thực hiện hợp nhất không chỉ bảo đảm văn bản hợp nhất phản ánh chính xác tình trạng pháp lý hiện hành của văn bản mà còn nâng cao chất lượng, giá trị sử dụng và khả năng tiếp cận pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Bãi bỏ nguyên tắc chỉ hợp nhất đối với các văn bản do cùng một cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành

Pháp lệnh sửa đổi đã bãi bỏ nguyên tắc chỉ hợp nhất đối với các văn bản do cùng một cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Quy định mới tạo cơ sở pháp lý để thực hiện hợp nhất trong các trường hợp có sự thay đổi về thẩm quyền ban hành văn bản do sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước hoặc điều chỉnh mô hình chính quyền địa phương, qua đó bảo đảm tính liên tục, thống nhất và thuận lợi trong việc tra cứu, áp dụng pháp luật.

Hoàn thiện cơ sở pháp lý về sử dụng và viện dẫn văn bản hợp nhất

Pháp lệnh mới đã sửa đổi căn bản quy định về sử dụng văn bản hợp nhất. Theo đó, văn bản hợp nhất được xác định rõ là căn cứ chính thức để cơ quan, tổ chức, cá nhân viện dẫn và áp dụng pháp luật. Đặc biệt, lần đầu tiên Pháp lệnh quy định cụ thể về cách thức viện dẫn văn bản hợp nhất đối với từng loại văn bản khác nhau, từ luật, pháp lệnh đến các văn bản do cơ quan trung ương và địa phương ban hành. Quy định này góp phần khắc phục tình trạng viện dẫn không thống nhất trong thực tiễn, đồng thời tạo thuận lợi cho hoạt động áp dụng pháp luật.

Đổi mới căn bản quy trình tổ chức hợp nhất văn bản

So với quy định hiện hành, Pháp lệnh sửa đổi đã có sự thay đổi đáng kể về cơ chế tổ chức thực hiện hợp nhất văn bản.

Điểm nổi bật là cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản sửa đổi, bổ sung phải chuẩn bị dự thảo phần nội dung hợp nhất đồng thời với quá trình xây dựng văn bản sửa đổi, bổ sung. Nội dung hợp nhất được chuẩn bị ngay từ giai đoạn soạn thảo thay vì chỉ thực hiện sau khi văn bản được ban hành như trước đây.

Cách thức này giúp rút ngắn thời gian xử lý, nâng cao tính chủ động của cơ quan soạn thảo và bảo đảm văn bản hợp nhất có thể được công bố ngay khi văn bản sửa đổi, bổ sung có hiệu lực. Đây là bước đổi mới quan trọng nhằm nâng cao chất lượng và tính kịp thời của công tác hợp nhất văn bản.

Mở rộng thẩm quyền hợp nhất văn bản đối với chính quyền địa phương

Một nội dung mới đáng chú ý của Pháp lệnh sửa đổi là việc mở rộng thẩm quyền hợp nhất văn bản đối với các chủ thể có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở địa phương. Theo đó, Chủ tịch Hội đồng nhân dân các cấp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã và chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt được giao trách nhiệm tổ chức thực hiện và ký xác thực văn bản hợp nhất thuộc thẩm quyền.

Quy định này tạo cơ sở để thực hiện hợp nhất đối với toàn bộ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của Điều 4 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 (được sửa đổi bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Ban hành VBQPPL sửa đổi năm 2025), đồng thời bảo đảm sự thống nhất trong tổ chức thực hiện hoạt động hợp nhất từ trung ương đến địa phương.

Hoàn thiện quy định về thời hạn hợp nhất văn bản

Pháp lệnh sửa đổi đã thay đổi cách thức xác định thời hạn hợp nhất văn bản theo hướng linh hoạt và gắn chặt với thời điểm có hiệu lực của văn bản sửa đổi, bổ sung.

Thay vì áp dụng thống nhất thời hạn 05 ngày làm việc như trước đây, Pháp lệnh sửa đổi quy định văn bản hợp nhất phải được hoàn thành trong thời hạn 15 ngày hoặc 7 ngày tùy từng loại văn bản; đồng thời yêu cầu văn bản hợp nhất phải được ký xác thực chậm nhất vào ngày văn bản sửa đổi, bổ sung có hiệu lực.

Quy định mới thể hiện cách tiếp cận linh hoạt hơn trong xác định thời hạn hợp nhất văn bản, đồng thời bảo đảm văn bản hợp nhất được ban hành đồng bộ với thời điểm phát sinh hiệu lực của các quy định pháp luật mới.

Tăng cường công khai, minh bạch và khả năng tiếp cận pháp luật

Một điểm mới quan trọng của Pháp lệnh sửa đổi là tăng cường trách nhiệm công khai văn bản hợp nhất trên môi trường số. Bên cạnh việc đăng Công báo và đăng tải trên cổng thông tin điện tử, văn bản hợp nhất còn phải được cập nhật kịp thời lên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. Đồng thời, Pháp lệnh cũng quy định văn bản hợp nhất phải được gửi ngay trong ngày ký xác thực và được đăng tải trong thời hạn 1 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản.

Các quy định này góp phần bảo đảm tính công khai, minh bạch của hệ thống pháp luật, đồng thời tạo điều kiện để người dân, doanh nghiệp và cơ quan nhà nước tiếp cận nhanh chóng, thuận lợi các quy định pháp luật đang có hiệu lực.

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo trong hoạt động hợp nhất văn bản

Lần đầu tiên, nội dung chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào quy định của Pháp lệnh.

Theo đó, các cơ quan thực hiện hợp nhất văn bản có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc nghiên cứu, ứng dụng công nghệ số, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo phục vụ hoạt động hợp nhất văn bản. Đồng thời, Bộ Tư pháp được giao nhiệm vụ chủ trì xây dựng, kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu phục vụ công tác này.

Đây là điểm mới mang tính đột phá, thể hiện sự chuyển biến từ phương thức quản lý truyền thống sang quản trị pháp luật dựa trên dữ liệu và công nghệ, phù hợp với yêu cầu xây dựng Chính phủ số và nền hành chính hiện đại.

Nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền

Pháp lệnh sửa đổi bổ sung nhiều quy định nhằm tăng cường trách nhiệm của cơ quan thực hiện hợp nhất và người có thẩm quyền ký xác thực văn bản hợp nhất.

Ngoài trách nhiệm bảo đảm tính chính xác về nội dung và kỹ thuật hợp nhất, các cơ quan còn phải thực hiện tập huấn chuyên môn, báo cáo định kỳ hằng năm, phối hợp xử lý sai sót và ứng dụng công nghệ số trong hoạt động hợp nhất văn bản.

Đặc biệt, người có thẩm quyền ký xác thực văn bản hợp nhất được xác định rõ trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra và xử lý các vi phạm phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện. Quy định này góp phần nâng cao tính chuyên nghiệp và trách nhiệm giải trình trong công tác hợp nhất văn bản.

Hoàn thiện cơ chế kỹ thuật hợp nhất theo hướng linh hoạt

Một thay đổi đáng chú ý khác là việc bãi bỏ Phụ lục hướng dẫn kỹ thuật trình bày văn bản hợp nhất ban hành kèm theo Pháp lệnh năm 2012 và giao Chính phủ quy định chi tiết về kỹ thuật trình bày văn bản hợp nhất. Cách tiếp cận này giúp tăng tính linh hoạt trong việc điều chỉnh các yêu cầu kỹ thuật, tạo điều kiện thuận lợi để cập nhật, hoàn thiện quy chuẩn trình bày văn bản phù hợp với sự phát triển của công nghệ và yêu cầu quản lý nhà nước trong từng giai đoạn.

Những sửa đổi, bổ sung trong Pháp lệnh Hợp nhất VBQPPL sửa đổi không chỉ khắc phục các hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành mà còn thể hiện tư duy đổi mới mạnh mẽ trong quản trị pháp luật. Các quy định này sẽ góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng hệ thống pháp luật, tăng cường khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, doanh nghiệp và cơ quan nhà nước, đồng thời đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.

Lượt xem: 100