Kiểm toán nhà nước
State audit office of VietNam
(sav.gov.vn) - Nguồn tài chính, chính sách ưu đãi, hỗ trợ và việc phân chia lợi nhuận trong hợp tác công tư về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được quy định tại Văn bản hợp nhất số 59/2026/VBHN-NĐ-BTC ngày 27/10/2026 của Bộ Tài chính.
Văn bản hợp nhất Nghị định số 180/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ về cơ chế, chính sách hợp tác công tư trong lĩnh vực phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 377/2026/NĐ-CP ngày 01/10/2026.
Đối tượng áp dụng gồm: các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan trung ương của tổ chức chính trị, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, cơ quan trung ương thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy ban nhân dân các cấp, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia hoạt động đầu tư.
Theo đó, nguồn tài chính cho hoạt động hợp tác công tư trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số gồm:
- Nguồn vốn đầu tư công, chi thường xuyên ngân sách nhà nước chỉ cho lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, trong đó có nguồn vốn được bố trí qua Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia, Qũy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia, Quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia, Quỹ đầu tưtư mạo hiểm địa phương và các quỹ khác theo quy định của pháp luật;
- Quỹ phát triển khoa học và công nghệ, Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp của tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước và các quỹ khác theo pháp luật quản lý ngành; nguồn thu từ việc cung cấp sản phẩm, dịch vụ hình thành từ hoạt động hợp tác công tư theo quy định của pháp luật về giá, phí và pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập;
- Nguồn tài chính của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân và các nguồn vốn hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.
Việc lập dự toán, phân bổ, quản lý, sử dụng nguồn tài chính quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này thực hiện theo quy định tương ứng với từng nguồn vốn theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, pháp luật về ngân sách nhà nước và theo quy chế hoạt động của các quỹ.
Bộ, cơ quan trung ương, địa phương, đơn vị sự nghiệp công lập khi thực hiện hoạt động hợp tác công tư với các tổ chức, doanh nghiệp theo quy định của Nghị định này thì ưu tiên cân đối, bố trí nguồn ngân sách nhà nước quy định tại điểm a khoản 1 Điều này để tham gia thực hiện.
Đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chỉ thường xuyên có nguồn thu hợp pháp từ hoạt động hợp tác công tư quy định tại Nghị định này, sau khỉ thực hiện các nghĩa vụ với nhà nước (nếu có) được để lại toàn bộ để quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập, ưu tiên cho việc tái đầu tư phát triển hạ tầng dữ liệu, nghiên cứu và phát triển các sản phẩm, dịch vụ dữ liệu mới.
Ngoài nguồn vốn quy định tại khoản 1 Điều này, doanh nghiệp được huy động nguồn vốn hợp pháp khác để thực hiện hoạt động hợp tác công tư trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo quy định tại Nghị định này.
Đáng chú ý, theo Điều 5, tổ chức, cá nhân tham gia hợp tác công tư được áp dụng chính sách ưu đãi về thuế theo pháp luật về thuế. Trong đó, doanh nghiệp được tính vào chi phí được trừ để xác định thu nhập chịu thuế đối với chi phí nghiên cứu và phát triển bằng 200% chi phí thực tế của hoạt động này khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của Chính phủ.
Văn bản cũng quy định việc lựa chọn hình thức hợp tác phù hợp với tính chất hoạt động. Đối với công nghệ, sản phẩm đang nghiên cứu cơ bản hoặc nghiên cứu và phát triển nhưng chưa xác định khả năng thương mại hóa, ưu tiên hợp tác thông qua đặt hàng, tài trợ. Đối với hoạt động sử dụng tài sản công sẵn có phục vụ nghiên cứu, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số hoặc sử dụng kết quả nghiên cứu để thương mại hóa, ưu tiên lựa chọn hình thức theo Chương III hoặc Điều 23 của Nghị định./.
Lượt xem: 48