Kiểm toán nhà nước
State audit office of VietNam
<font face=Arial size=2>Thoả thuận nhằm tăng cường kiểm soát chất lượng thủy sản vừa được Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng, an toàn vệ sinh và thú y thủy sản Việt Nam (Nafiqaved) Nguyễn Tử Cương ký với Tổng giám đốc Cục Thanh tra chất lượng sản phẩm thủy sản quốc gia Hàn Quốc (NFPQIS) Lee Sun Jun. </font>
<font face=Arial size=2>Kiểm toán nội bộ (KTNB) Trung Quốc ra đời sau khi Quốc gia này thực hiện chính sách cải cách cơ cấu kinh tế (1983). Vượt qua khỏi những khó khăn ban đầu, kiểm toán nội bộ Trung Quốc đã có những bước phát triển nhanh, mạnh và vững chắc, là công cụ kiểm tra, kiểm soát không thể thiếu được của các doanh nghiệp trong cơ chế kinh tế thị trường hội nhập hiện nay. </font></font>
Để nâng cao chất lượng kiểm toán Báo cáo quyết toán ngân sách các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cần phải xây dựng kế hoạch kiểm toán phù hợp với điều kiện thực tiễn đáp ứng các mục tiêu, nội dung kiểm toán. Trong đó việc nghiên cứu, đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ là một vấn đề quan trọng nhằm xác định phương pháp, phạm vi, nội dung kiểm toán để nâng cao chất lượng và hiệu quả kiểm toán.
Sự ra đời và hoạt động của KTNN xuất phát từ yêu cầu khách quan của việc kiểm tra, kiểm soát chi tiêu công quỹ Quốc gia, bản đảm sử dụng hợp lý, đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả các nguồn lực tài chính của các cơ quan công quyền. Trên thực tế, KTNN thường tiến hành các cuộc kiểm toán tuân thủ, xem xét việc chấp hành các chính sách, luật lệ và chế độ của Nhà nước tại các đơn vị sử dụng vốn và kinh phí của ngân sách Nhà nước. Đồng thời, KTNN còn thực hiện các cuộc kiểm toán hoạt động nhằm đánh giá và góp phần nâng cao tính kinh tế, tính hiệu lực và tính hiệu quả trong các tổ chức công quyền, các đơn vị có sử dụng vốn và kinh phí của ngân sách Nhà nước. Như vậy, KTNN được coi là công cụ kiểm tra tài chính công cấp cao nhất, bảo đảm tính kinh tế, tính hiệu lực và hiệu quả trong quá trình quản lý, sử dụng ngân sách Nhà nước và công quỹ Quốc gia; xác lập trật tự, kỷ cương trong quản lý kinh tế - tài chính, góp phần đấu tranh chống gian lận và tham nhũng.
Công ty mẹ - công ty con (CTM-CTC) là hình thức liên kết chặt chẽ về lợi ích kinh tế giữa CTM và CTC trong đó CTM chi phối các CTC thông qua sự đầu tư góp vốn, chuyển giao công nghệ, khả năng bảo lãnh, uy tín, thương hiệu, thị trường… Một CTM với nhiều CTC hoạt động kinh doanh trên nhiều lĩnh vực và địa bàn khác nhau tạo thành tập đoàn. Điểm khác biệt lớn nhất của tập đoàn so với tổng công ty là cách quản lý chi phối qua mệnh lệnh hành chính được thay bằng quan hệ kinh tế. CTM đóng vai trò là nhà đầu tư vào CTC cho nên sự liên kết ở đây bền chặt hơn, quyền lợi và trách nhiệm được phân định một cách rõ ràng hơn.
Hoạt động cho vay của ngân hàng có mối liên hệ mật thiết với tình hình phát triển kinh tế tại khu vực ngân hàng phục vụ, bởi vì cho vay thúc đẩy sự tăng trưởng của các doanh nghiệp, tạo sức sống cho nền kinh tế, thông qua các khoản cho vay của ngân hàng, thị trường sẽ có thêm thông tin về chất lượng tín dụng của từng khách hàng.
Hệ thống Chuẩn mực kiểm toán nhà nước là tổng thể các nguyên tắc cơ bản, các hướng dẫn tác nghiệp và xử lý các quan hệ phát sinh trong hoạt động kiểm toán mà Đoàn kiểm toán nhà nước, Kiểm toán viên nhà nước phải tuân thủ khi tiến hành các hoạt động kiểm toán; đồng thời là căn cứ để kiểm soát chất lượng và đạo đức hành nghề của Kiểm toán viên Nhà nước.
Để tăng cường kiểm soát hoạt động kiểm toán và nâng cao chất lượng kiểm toán thì đánh giá chất lượng cuộc kiểm toán là một trong những vấn đề giữ vai trò quan trọng. Nhưng để đánh giá được chất lượng các cuộc kiểm toán thì vấn đề then chốt là xác định được những yếu tố nào ảnh hưởng đến chất lượng cuộc kiểm toán, tiêu chí để xác định chất lượng cuộc kiểm toán và mức độ ảnh hưởng của các tiêu chí đó đến chất lượng cuộc kiểm toán.
Kiểm toán nội bộ (KTNB) ở các nước trên thế giới ra đời khá sớm và phát triển khá mạnh mẽ, đặc biệt đối với các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, người ta coi đó là một trong những công cụ rất quan trọng và hữu hiệu của nhà quản lý để kiểm soát và quản lý tốt các hoạt động của đơn vị. Thực tế, KTNB ở Việt Nam đã được đề cập nhiều đối với DNNN vào những năm 1997 - 1998 (các DN thuộc các thành phần khác chưa được đề cập nhiều), song, do chưa quan tâm đúng mức của các nhà quản lý nên nhiều năm qua việc tổ chức và hoạt động của KTNB ở nhiều đơn vị chưa hiệu quả. Điều đó phụ thuộc rất nhiều vào quá trình nhận thức của các nhà quản lý đối với KTNB trong hệ thống kiểm soát và quản lý của các đơn vị. Phạm vi bài viết này trao đổi một số vấn đề về nhu cầu, xu hướng phát triển và nội dung của KTNB, trên cơ sở đó các đơn vị sẽ xác định nhu cầu tự thân của mình đối với KTNB.
Quyết toán NSNN là khâu cuối cùng trong một chu trình ngân sách nhằm tổng kết, đánh giá việc thực hiện ngân sách cũng như các chính sách ngân sách của năm ngân sách đã qua. Với hàm nghĩa đó, quyết toán NSNN trở thành một khâu quan trọng, là nhiệm vụ của nhiều cơ quan, đơn vị từ đơn vị sử dụng ngân sách, các cấp ngân sách đến các cơ quan quản lý ngân sách, cơ quan kiểm tra kiểm soát ngân sách cho đến cơ quan quyền lực tối cao của mỗi quốc gia là Quốc hội (hay Nghị viện).
Vui lòng đăng nhập để tiếp tục xem nội dung.