Kiểm toán nhà nước
State audit office of VietNam
Trong những năm qua, nhờ những thành tựu của quá trình đổi mới kinh tế - xã hội của đất nước, nền kinh tế của nước ta liên tục tăng trưởng. Tốc độ tăng trưởng GDP thực tế luôn đạt mức cao trong khu vực và trên thế giới. Số liệu thống kê cho thấy, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trong giai đoạn 1997-2000 là 6,4/năm, trong đó năm 2001 đạt 6,9; năm 2002 đạt 7,1; năm 2003 đạt 7,3; năm 2004 đạt 7,7 và năm 2005 là 8,4/năm.
Trong xu thế phát triển và hội nhập của đất nước ngày càng mạnh mẽ, yêu cầu đổi mới quản lý kinh tế - xã hội đặt ra cho các cơ quan quản lý Nhà nước phải có những thay đổi nhằm thích ứng được nhiệm vụ trong từng giai đoạn cụ thể. Kiểm toán Nhà nước cũng không ngoại lệ trong quy luật đổi mới tất yếu này. Vì vậy, ngày 20 tháng 04 năm 2005, Luật Kiểm toán Nhà nước được thông qua tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khoá IX (có hiệu lực thi hành từ 01/01/2006) đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong việc xác lập địa vị pháp lý và định hướng phát triển, thúc đẩy hoạt động kiểm toán Nhà nước lên một tầm cao mới.
Kiểm toán Nhà nước trực thuộc Chính phủ được thành lập và hoạt động theo Nghị định số 70/CP ngày 11/7/1994 của Chính phủ, với chức năng kiểm tra, đánh giá, xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp, độ tin cậy của các thông tin, số liệu kiểm toán về Ngân sách nhà nước, về hoạt động tài chính nhà nước, phục vụ cho Quốc hội, Chính phủ trong các quyết định, các quyết sách. Thời gian qua, Kiểm toán nhà nước (KTNN) đã làm được nhiều việc góp phần nâng cao chất lượng, độ tin cậy của thông tin tài chính - kế toán, chỉ ra các sai phạm, yếu kém, các sơ hở trong quản lý tài chính, giúp Nhà nước, các đơn vị hiểu rõ hơn thực trạng công tác quản lý tài chính, tuân thủ và chấp hành pháp luật, kỷ luật tài chính, sử dụng và bảo vệ nguồn lực quốc gia, nguồn vốn của Nhà nước. Thông tin và kết luận của Kiểm toán nhà nước đã cung cấp cho Chính phủ, Quốc hội làm các căn cứ cho các quyết định ở tầm vĩ mô và giám sát các hoạt động tài chính, phân bổ và sử dụng Ngân sách nhà nước.
Quản trị công ty (QTCT) ngày nay là một chủ đề có tính thời sự trên toàn cầu, nhất là sau cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997 và gần đây là những vụ sụp đổ của một lọat các công ty như Enron, Woldcom, Palamat… và dẫn đến sự biến mất của công ty kiểm toán quốc tế Andersen. Bài viết này tìm hiểu vai trò của kiểm toán trong hệ thống QTCT nhằm đưa ra một số khuyến nghị đối với vấn đề QTCT của Việt Nam.
Franchise trên thế giới xuất hiện đầu tiên tại Mỹ, vào giữa thế kỷ 19. Đến nay Franchise đã trở thành một phương thức kinh doanh hiện đại, rất phổ biến. Tại Mỹ, gần một nửa doanh số bán lẻ được thực hiện thông qua các hệ thống Franchise. Mặt dù chưa có định nghĩa thống nhất trên thế giới, nhưng khái quát chung, Franchise là phương thức kinh doanh mà theo đó, Bên nhượng quyền (Franchisor, doanh nghiệp sản xuất hoặc mua bán hoặc dịch vụ) cho phép Bên nhận quyền (Franchisee, doanh nghiệp kinh doanh độc lập) sử dụng nhãn hiệu hàng hóa, khẩu hiệu kinh doanh và bí quyết kinh doanh hoặc quy trình vận hành hệ thống kinh doanh
Kiểm toán nội bộ (KTNB) ở các nước trên thế giới ra đời khá sớm và phát triển khá mạnh mẽ, đặc biệt đối với các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, người ta coi đó là một trong những công cụ rất quan trọng và hữu hiệu của nhà quản lý để kiểm soát và quản lý tốt các hoạt động của đơn vị. Thực tế, KTNB ở Việt Nam đã được đề cập nhiều đối với DNNN vào những năm 1997 - 1998 (các DN thuộc các thành phần khác chưa được đề cập nhiều), song, do chưa quan tâm đúng mức của các nhà quản lý nên nhiều năm qua việc tổ chức và hoạt động của KTNB ở nhiều đơn vị chưa hiệu quả. Điều đó phụ thuộc rất nhiều vào quá trình nhận thức của các nhà quản lý đối với KTNB trong hệ thống kiểm soát và quản lý của các đơn vị. Phạm vi bài viết này trao đổi một số vấn đề về nhu cầu, xu hướng phát triển và nội dung của KTNB, trên cơ sở đó các đơn vị sẽ xác định nhu cầu tự thân của mình đối với KTNB.
Không giống như khi kiểm toán các báo cáo tài chính, kiểm toán viên (KTV) có thể căn cứ vững chắc trên chuẩn mực kế toán và các văn bản qui phạm pháp luật về chế độ và kỷ luật tài chính để đưa ra kết luật và kiến nghị kiểm toán. Trong kiểm toán hoạt động, điều khó khăn chủ yếu là tìm ra được mhững tiêu chí cụ thể để đánh giá một hoạt động là có hiệu quả và hiệu lực hay không.
Chủ trương cổ phần hoá Doanh nghiệp của Đảng và Nhà nước ta trong các năm qua là một chủ trương lớn và đang đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên trong quá trình cổ phần hoá đang bộc lộ nhiều mặt hạn chế như: Thời điểm IPO lần đầu, việc định giá giá trị tài sản, cổ phiếu ưu đãi, các thông tin liên quan có lợi mà doanh nghiệp chưa thông báo hoặc cố tình không thông báo…Mặt khác các văn bản chế độ, chính sách về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước vẫn đang trong quá trình hoàn thiện. Việc kiểm toán đối với các doanh nghiệp trong giai đoạn cổ phần hoá cũng rất mới mẻ đối với các kiểm toán viên, trong quá trình kiểm toán cũng phát sinh rất nhiều khó khăn, vướng mắc
Theo chương trình làm việc của kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XI, các đại biểu Quốc hội sẽ thảo luận và thông qua một số Dự án Luật, trong đó có Luật thực hành tiết kiệm và chống lãng phí. Đây là đạo luật đã và đang thu hút sự quan tâm sâu rộng của mọi tầng lớp nhân dân.
Trong tiến trình đổi mới của đất nước, cùng với việc tăng cường công tác lập pháp, Quốc hội đã chú trọng và chủ động hơn trong việc xem xét, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, trong đó có vấn đề kinh tế -tài chính. Quốc hội ngày càng thể hiện rõ là cơ quan có quyền lập hiến, lập pháp và quyết định những chính sách cơ bản của đất nước. Đồng thời, Quốc hội cũng là cơ quan thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước.
Vui lòng đăng nhập để tiếp tục xem nội dung.