(sav.gov.vn) - Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 109/NQ-CP về việc cập nhật, bổ sung Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và Kết luận số 18-KL/TW của Trung ương, gắn với Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia, vay và trả nợ công, đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026–2030. Nghị quyết đặt mục tiêu xuyên suốt là phấn đấu đạt tăng trưởng kinh tế “2 con số” trên cơ sở giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô và nâng cao đời sống Nhân dân.
Một trong những yêu cầu trọng tâm được nhấn mạnh là đổi mới mạnh mẽ tư duy, nhận thức và phương thức quản trị thực thi. Các cấp, ngành, địa phương phải cụ thể hóa mục tiêu tăng trưởng vào kế hoạch hằng năm, gắn với trách nhiệm người đứng đầu, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát và đánh giá theo kết quả đầu ra. Công tác tuyên truyền, tạo đồng thuận xã hội, khơi dậy khát vọng phát triển trong cộng đồng doanh nghiệp và người dân cũng được đặt ra như một nhiệm vụ quan trọng.
Nghị quyết xác định hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển là giải pháp then chốt nhằm giải phóng sức sản xuất, huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực. Trong đó, tập trung xây dựng hệ thống pháp luật phù hợp để xác lập mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đáng chú ý, phương thức quản lý nhà nước sẽ chuyển mạnh từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, gắn với hoàn thiện tiêu chuẩn, quy chuẩn và tăng cường giám sát.
Cùng với đó, Chính phủ yêu cầu khẩn trương tháo gỡ các “điểm nghẽn” về thể chế, cơ chế, chính sách; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính theo hướng công khai, minh bạch, số hóa toàn bộ quy trình, liên thông dữ liệu giữa các cơ quan. Mục tiêu đặt ra là đưa môi trường đầu tư của Việt Nam vào nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN và nhóm 30 quốc gia hàng đầu thế giới vào năm 2028.
Về định hướng phát triển, Nghị quyết nhấn mạnh việc chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Các chính sách tài khóa, tiền tệ và vĩ mô khác sẽ được điều hành linh hoạt, đồng bộ nhằm bảo đảm nguồn lực cho tăng trưởng cao, đồng thời kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.
Các động lực tăng trưởng truyền thống như đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu tiếp tục được củng cố, song song với việc phát triển các động lực mới như kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và các ngành công nghiệp công nghệ cao. Thị trường tài chính, chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp được định hướng phát triển an toàn, lành mạnh để trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn hiệu quả.
Trong lĩnh vực công nghiệp, Nghị quyết đặt mục tiêu xây dựng nền công nghiệp quốc gia vững mạnh, nâng cao năng lực tự chủ về nguyên vật liệu, công nghệ và nguồn nhân lực; ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp nền tảng, mũi nhọn và các ngành mới nổi như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, robot, năng lượng tái tạo. Đồng thời, phát triển hệ sinh thái dịch vụ hiện đại, logistics, thương mại điện tử và các trung tâm tài chính quốc tế.
Đối với khu vực nông nghiệp, định hướng phát triển theo hướng xanh, tuần hoàn, ứng dụng công nghệ cao, gắn với xây dựng chuỗi giá trị và thương hiệu nông sản. Chính sách đất đai, đầu tư, bảo hiểm và hợp tác công – tư sẽ được hoàn thiện nhằm thúc đẩy kinh tế nông nghiệp hiện đại, bền vững.
Nghị quyết cũng nhấn mạnh vai trò của khu vực kinh tế tư nhân là một trong những động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, đồng thời tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước. Chính sách thu hút đầu tư nước ngoài sẽ chuyển từ ưu đãi thuế sang ưu đãi theo hiệu quả, gắn với chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực nội sinh.
Về phát triển nguồn nhân lực, Chính phủ yêu cầu tập trung đào tạo nhân lực chất lượng cao, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược; đẩy mạnh chuyển đổi số trong giáo dục, đưa trí tuệ nhân tạo và kỹ năng số vào hệ thống giáo dục quốc dân. Đồng thời, có cơ chế đột phá thu hút, trọng dụng nhân tài trong và ngoài nước.
Trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, Nghị quyết đề ra các cơ chế, chính sách vượt trội nhằm tháo gỡ rào cản, thúc đẩy nghiên cứu, chuyển giao và làm chủ công nghệ, phát triển hạ tầng số, dữ liệu lớn và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia.
Về tài chính quốc gia, Nghị quyết yêu cầu quản lý ngân sách nhà nước hiệu quả, mở rộng cơ sở thu, tiết kiệm chi, bảo đảm an toàn tài chính quốc gia. Đồng thời, tăng cường quản lý nợ công, nâng cao tính minh bạch, phấn đấu đưa Việt Nam sớm đạt mức xếp hạng tín nhiệm đầu tư.
Đối với đầu tư công trung hạn, nguồn lực sẽ được bố trí tập trung, ưu tiên các chương trình mục tiêu quốc gia, dự án quan trọng quốc gia và các dự án liên vùng; giảm tối thiểu 30% số lượng dự án so với giai đoạn trước, bảo đảm hiệu quả và tránh dàn trải.
Nghị quyết số 109/NQ-CP có hiệu lực từ ngày 16/4/2026 và thay thế Nghị quyết số 41/NQ-CP trước đó. Các nội dung đã triển khai theo Nghị quyết 41 tiếp tục được thực hiện và cập nhật theo Chương trình hành động mới, bảo đảm tính kế thừa, đồng bộ và hiệu quả trong triển khai các mục tiêu phát triển giai đoạn 2026–2030.
Hà Linh