Tài chính cho khoa học công nghệ: Nhận diện lực cản và kiến nghị từ Kiểm toán nhà nước

(sav.gov.vn) - Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ (KHCN) và đổi mới sáng tạo đến năm 2030 đã định vị rõ vai trò động lực tăng trưởng chủ yếu của lĩnh vực này, song thực tiễn triển khai vẫn đang đối mặt với không ít rào cản từ cơ chế tài chính. Từ lăng kính giám sát, Kiểm toán nhà nước (KTNN) cùng giới chuyên gia đã thẳng thắn chỉ rõ những “điểm nghẽn” cốt lõi nằm ở cả khung chính sách lẫn khâu thực thi, qua đó kiến nghị các giải pháp đột phá nhằm khơi thông dòng vốn ngân sách.

Những “nút thắt” trong phân bổ ngân sách

Quyết định số 604/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã điều chỉnh, bổ sung Chiến lược phát triển KHCN và đổi mới sáng tạo đến năm 2030, tiếp tục khẳng định vai trò trung tâm của lĩnh vực này đối với nỗ lực tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Bám sát định hướng đó, tại phiên họp Thường trực Ban Chỉ đạo quốc gia (ngày 12/3/2026), yêu cầu rà soát, tháo gỡ vướng mắc về cơ chế tài chính nhằm tạo hành lang pháp lý thông thoáng đã được đặt ra vô cùng quyết liệt. Triển khai nhiệm vụ này, Bộ Tài chính đã đề nghị các Bộ, ngành, địa phương khẩn trương làm rõ những khó khăn trong cơ chế bố trí, phân bổ và sử dụng nguồn lực, nhằm khắc phục triệt để tình trạng triển khai bị động, giải ngân chậm và kém hiệu quả.

Dưới góc độ giám sát tài chính công, KTNN đã gửi Văn bản kiến nghị Bộ Tài chính nghiên cứu, tổng hợp và hoàn thiện cơ chế tài chính cho lĩnh vực KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Cụ thể, KTNN đề nghị cần sửa đổi quy định phân bổ ngân sách nhà nước (NSNN) theo hướng cho phép linh hoạt điều chuyển giữa tỷ lệ 2% (dành cho KHCN và đổi mới sáng tạo) và 1% (dành cho chuyển đổi số) tùy theo mục tiêu chiến lược hằng năm, miễn sao tổng chi không thấp hơn 3% NSNN. Thực tiễn cho thấy, việc ấn định “cứng” tỷ lệ phân bổ NSNN cho mỗi lĩnh vực đang vô hình trung triệt tiêu tính linh hoạt trong công tác điều hành ngân sách.

Thêm vào đó, việc bóc tách cứng nhắc giữa vốn đầu tư công và vốn sự nghiệp KHCN cũng đang gây ra sự lúng túng lớn cho các địa phương. Để giải quyết điểm nghẽn này, KTNN nhấn mạnh cần có hướng dẫn cụ thể nhằm tránh ách tắc ngay từ khâu lập kế hoạch. Đi kèm với đó là yêu cầu bổ sung hướng dẫn chi tiết tại các Thông tư thi hành Luật NSNN 2025 và Luật Đầu tư công, quy định rõ ràng quy trình phối hợp giữa Bộ Tài chính và Bộ KHCN trong việc thống nhất cơ cấu phân bổ. Mục tiêu tối thượng là đảm bảo tổng mức cấp ngân sách đạt tối thiểu 3% tổng chi NSNN đúng theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, mà không bị ách tắc ở khâu lập kế hoạch đầu tư công trung hạn.

Ở khía cạnh tổ chức thực hiện, KTNN cũng phát đi cảnh báo về nguy cơ sử dụng kém hiệu quả tại các quỹ tài chính liên quan đến KHCN và đổi mới sáng tạo. Thực tế kiểm toán cho thấy, một số Quỹ có tình trạng sử dụng nguồn vốn chưa hiệu quả vắt qua nhiều năm liền. Do đó, cơ quan này đề nghị cần khẩn trương nghiên cứu, rà soát lại các cơ chế vận hành để các Quỹ này sử dụng hiệu quả dòng vốn được giao.

Chấp nhận rủi ro, hoàn thiện cơ chế

Một trong những vấn đề cốt lõi nhất được KTNN bóc tách là tư duy quản lý tài chính hiện hành vẫn còn nặng nề về kiểm soát đầu vào và chưa chấp nhận rủi ro – một yếu tố đặc thù, tất yếu của hoạt động nghiên cứu. Điều này dẫn đến tâm lý e ngại, khiến các đơn vị có xu hướng lựa chọn những nhiệm vụ an toàn, thiếu tính đột phá. Do đó, KTNN đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu phải luật hóa khái niệm rủi ro trong khoa học, đồng thời hoàn thiện cơ chế tài chính theo hướng “chấp nhận thất bại có kiểm soát”.

Việc đánh giá cần dựa trên mức độ đóng góp tri thức, khả năng ứng dụng và tiềm năng phát triển trong tương lai, thay vì chỉ đo đếm bằng kết quả cuối cùng. Đột phá hơn, KTNN đề xuất: Đối với các dự án đã được hội đồng chuyên môn xác nhận thất bại do rủi ro khoa học khách quan, cần cho phép tất toán kinh phí hợp lệ đã chi trả mà không quy kết là hành vi làm thất thoát NSNN.

Bên cạnh đó, bối cảnh chuyển đổi số đang làm phát sinh nhiều yêu cầu mới đối với cơ chế tài chính. KTNN chỉ rõ, các khoản chi cho dữ liệu và hạ tầng số hiện chưa được định danh đầy đủ trong hệ thống NSNN. Cơ quan kiểm toán đề nghị cần xác lập dữ liệu và hạ tầng số là một loại tài sản công đặc thù, từ đó ban hành cơ chế tài chính riêng biệt để đầu tư, khai thác và chia sẻ nguồn tài nguyên này. Một bất cập đáng lo ngại khác là cơ chế tài chính cho chuyển đổi số hiện chưa bao quát được toàn bộ vòng đời của hệ thống. Nguồn lực chủ yếu mới chỉ dồn vào việc đầu tư ban đầu, trong khi chi phí vận hành, bảo trì, và nâng cấp chưa được bố trí tương xứng.

Đáng chú ý, quy trình đấu thầu và mua sắm cũng đang tạo thành một “nút thắt” lớn. Báo cáo của KTNN cho thấy, thời gian từ khi đề xuất dự toán đến khi hoàn tất đấu thầu có thể kéo dài tới 1-2 năm. Hệ quả là khi giải ngân xong để mua sắm thiết bị hoặc phần mềm, công nghệ đó đã trở nên lạc hậu, không còn đáp ứng được yêu cầu chuyên môn của đề tài, dự án KHCN. Để khắc phục, KTNN đề nghị nghiên cứu xây dựng cơ chế mở, cho phép nhà thầu cung cấp các trang thiết bị có cấu hình, phiên bản mới hơn so với hồ sơ thầu ban đầu nhưng không làm tăng giá trúng thầu.

Khoảng cách ở khâu thực thi

Song song với các kiến nghị về rào cản cơ chế, phân tích từ giới chuyên gia cũng chỉ rõ một thực trạng: Nhiều chính sách dù rất đúng đắn nhưng lại chưa phát huy hiệu quả trong thực tiễn. Theo PGS,TS. Vũ Sỹ Cường (Học viện Tài chính), chủ trương coi trọng lĩnh vực này của Đảng và Nhà nước là hoàn toàn đúng và trúng. Ngay từ năm 1992, nước ta đã xác định KHCN là mục tiêu then chốt, đồng thời yêu cầu dành tối thiểu 2% chi NSNN cho lĩnh vực này. Dù thời điểm đó chưa sử dụng khái niệm “đổi mới sáng tạo”, nhưng tư duy nền tảng đã được hình thành vững chắc. Định hướng này tiếp tục được tái khẳng định trong nhiều văn bản pháp lý sau đó, với mục tiêu nâng mức đầu tư lên 2% GDP cho R&D và ít nhất 3% chi ngân sách.

Tuy nhiên, khoảng cách giữa mục tiêu và thực tế triển khai vẫn còn rất lớn. Tỷ lệ chi NSNN cho KHCN trong nhiều năm qua chỉ quẩn quanh ở mức 1%, những năm cao nhất cũng mới tiệm cận 1,8%. Đi kèm với đó, các chính sách ưu đãi dành cho doanh nghiệp (như thuế, đất đai) tuy đã được ban hành nhưng hiệu quả còn hạn chế, thủ tục khó tiếp cận. Thậm chí, nhiều quỹ hỗ trợ KHCN được thành lập nhưng tỷ lệ giải ngân lại rất thấp.

Để giải quyết bài toán này, ông Vũ Sỹ Cường cho rằng, ưu tiên hàng đầu là phải nâng cao năng lực giải ngân. Đồng thời, các cơ quan quản lý cần khẩn trương cụ thể hóa các quy định, đặc biệt là ở các văn bản cấp dưới luật, để tăng tính khả thi và thực sự chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu. Cần có bước cải thiện mạnh mẽ chính sách tài chính cho doanh nghiệp, đơn cử như việc cho phép chuyển lỗ chi phí R&D nhằm khuyến khích dòng vốn đầu tư dài hạn. Việc rà soát, đồng bộ toàn bộ hệ thống pháp luật là bước đi bắt buộc nhằm tháo gỡ vướng mắc trong khâu triển khai. Cuối cùng, vị chuyên gia nhấn mạnh bài toán cốt lõi về nhân lực, khi đội ngũ nghiên cứu hiện nay còn khá mỏng, chưa đáp ứng được yêu cầu bứt phá.

Khép lại vấn đề, có thể thấy, để KHCN thực sự trở thành “động lực chủ yếu” kiến tạo kỷ nguyên phát triển mới, việc đổi mới thể chế tài chính không chỉ dừng ở việc tăng quy mô chi, mà quan trọng hơn là phải thay đổi căn bản tư duy và phương thức quản lý. Những kiến nghị sát thực tiễn của KTNN và giới chuyên gia cần sớm được cụ thể hóa thành các nghị định, thông tư; qua đó kiến tạo một hành lang pháp lý thông thoáng để nhà khoa học dám nghĩ lớn, doanh nghiệp dám đầu tư, đưa dòng vốn ngân sách chảy đúng vào những huyết mạch của nền kinh tế đổi mới sáng tạo./.

Theo Báo Kiểm toán số 16/2026