Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế

(sav.gov.vn) - Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Chí Dũng vừa ký ban hành Quyết định số 604/QĐ-TTg phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030, với mục tiêu đưa lĩnh vực này trở thành động lực chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Theo Chiến lược, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được xác định là yếu tố quyết định nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng, đóng góp trực tiếp vào phát triển nhanh và bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân.

Chiến lược đặt mục tiêu phát triển tiềm lực và trình độ khoa học, công nghệ của Việt Nam đạt mức tiên tiến trong một số lĩnh vực quan trọng; từng bước làm chủ và phát triển các công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, tạo nền tảng cho tự chủ công nghệ quốc gia. Đồng thời, xây dựng hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia hiện đại, hội nhập quốc tế; phát triển mạnh hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo và đội ngũ doanh nghiệp công nghệ có năng lực cạnh tranh khu vực, hướng tới thị trường toàn cầu.

Đến năm 2030, nhiều chỉ tiêu quan trọng được đặt ra như: đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt trên 55%; tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao đạt tối thiểu 50% tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu; chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) thuộc nhóm 40 quốc gia dẫn đầu thế giới.

Tổng đầu tư xã hội cho nghiên cứu và phát triển (R&D) phấn đấu đạt tối thiểu 2% GDP, trong đó nguồn ngoài ngân sách nhà nước chiếm trên 60%. Ngân sách nhà nước dành cho phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được bố trí tối thiểu 2% tổng chi hằng năm và tăng dần theo yêu cầu phát triển.

Về nguồn lực, Chiến lược hướng tới nâng số nhân lực nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ lên 12 người trên một vạn dân; có ít nhất 50 tổ chức khoa học và công nghệ đạt trình độ khu vực và thế giới. Số lượng công bố khoa học quốc tế tăng bình quân 10%/năm; số đơn đăng ký sáng chế và văn bằng bảo hộ sáng chế tăng bình quân 16–18%/năm, với tỷ lệ khai thác thương mại đạt 8–10%.

Bên cạnh đó, mục tiêu đặt ra là đưa hạ tầng chất lượng quốc gia vào nhóm 50 quốc gia hàng đầu thế giới; Việt Nam nằm trong nhóm 3 nước dẫn đầu Đông Nam Á về nghiên cứu, phát triển trí tuệ nhân tạo. Tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo đạt trên 40%; tỷ lệ thương mại hóa kết quả nghiên cứu từ viện, trường đạt tối thiểu 30%.

Chiến lược cũng định hướng hình thành từ 5 đến 10 doanh nghiệp công nghệ quy mô khu vực trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược, từng bước làm chủ và sản xuất trong nước một số sản phẩm công nghệ có tác động lớn đến kinh tế và an ninh quốc gia.

Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, Chiến lược đề ra 6 nhóm nhiệm vụ trọng tâm, gồm: phát triển công nghệ và sản phẩm công nghệ chiến lược; thúc đẩy các lĩnh vực khoa học nền tảng; phát triển hạ tầng khoa học, công nghệ và dữ liệu quốc gia; xây dựng tổ chức khoa học và công nghệ cùng nguồn nhân lực chất lượng cao; hoàn thiện hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp công nghệ và thị trường khoa học – công nghệ; đẩy mạnh hội nhập quốc tế và ngoại giao khoa học, công nghệ.

Cùng với đó là các giải pháp mang tính đột phá về thể chế, cơ chế quản lý, tài chính, huy động nguồn lực và tăng cường giám sát, đánh giá, điều chỉnh quá trình thực hiện Chiến lược.

Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký, thay thế Quyết định số 569/QĐ-TTg trước đây về Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030.

Hà Linh