Kiểm toán tại Bộ Giáo dục và Đào tạo: Kiến nghị chấn chỉnh quản lý tài chính – tài sản công năm 2024

(sav.gov.vn) - Triển khai Kế hoạch kiểm toán năm 2025, Kiểm toán nhà nước (KTNN) đã thực hiện kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công năm 2024; đồng thời kiểm toán chuyên đề việc quản lý, sử dụng, sắp xếp lại và xử lý nhà, đất theo Nghị định số 167/2017/NĐ-CP ngày 31/12/2017 và Nghị định số 67/2021/NĐ-CP ngày 15/7/2021 tại Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ GDĐT).

Qua kiểm toán cho thấy Bộ GDĐT và các đơn vị trực thuộc được kiểm toán cơ bản đã thực hiện theo quy định của Nhà nước, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đầu tư công, Luật Xây dựng, Luật Giáo dục đại học và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học, cùng các văn bản hướng dẫn có liên quan trong quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công năm 2024. Đồng thời, Bộ GDĐT và các đơn vị trực thuộc đã thực hiện báo cáo, kê khai, đề xuất phương án sắp xếp lại, xử lý các cơ sở nhà, đất theo quy định.

Tuy nhiên, kết quả kiểm toán cũng chỉ rõ một số tồn tại hạn chế trong công tác quản lý tài chính – tài sản công năm 2024 của Bộ GDĐT.

Bất cập về cơ chế, chính sách

Thứ nhất, về định mức kinh tế - kỹ thuật (ĐMKTKT), tại khoản 6 Điều 10 Thông tư số 14/2024/TT-BGDĐT ngày 31/10/2024 của Bộ GDĐT đang quy định về xác định giá dịch vụ, đào tạo: “Chi phí khác gồm các loại thuế khác theo quy định, tiền thuê đất và các khoản phí, lệ phí khác”. Tuy nhiên, Bộ GDĐT chưa có văn bản hướng dẫn loại thuế nào không được tính vào giá dịch vụ đào tạo; do đó, còn đơn vị xây dựng ĐMKTKT làm cơ sở xác định giá dịch vụ, đào tạo có kết cấu cả chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp (thuế TNDN) 2% trên doanh thu là chưa đúng quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Thuế TNDN số 14/2008/QH12.

Thứ hai, đối với kiểm định chất lượng chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài, theo quy định tại khoản 25 Điều 1 (sửa đổi, bổ sung khoản 7 Điều 45) Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học số 34/2018/QH14, các chương trình liên kết đào tạo phải được kiểm định ngay sau khi có khóa sinh viên tốt nghiệp. Trên thực tiễn, việc tổ chức liên kết đào tạo với nước ngoài có sự khác biệt về chương trình đào tạo (chương trình đào tạo tích hợp, chương trình của đối tác nước ngoài...), địa điểm đào tạo, giảng viên… dẫn đến việc thực hiện kiểm định chương trình đào tạo đối với một số trường hợp không thực hiện được. Trong khi đó, Bộ GDĐT chưa có văn bản hướng dẫn về việc kiểm định chương trình đào tạo liên kết với nước ngoài trong từng trường hợp cụ thể để có thể triển khai thực hiện được quy định nêu trên.

Thứ ba, liên quan đến ký hợp đồng tư vấn ủy thác quản lý dự án, căn cứ theo quyết định phê duyệt dự án, hình thức quản lý dự án là Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành (Bộ GDĐT), chủ đầu tư và Ban QLDA ký hợp đồng ủy thác quản lý dự án. Tuy nhiên, đây là cách thức không được quy định tại Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 03/3/2021 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng. Đáng chú ý, đến nay vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể về việc thực hiện đối với hình thức quản lý dự án là Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành.

Thứ tư, về định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên NSNN theo Quyết định số 30/2021/QĐ-TTg ngày 10/10/2021, tại điểm a khoản 1 Điều 1 của Quyết định quy định căn cứ số biên chế được cơ quan có thẩm quyền giao trên cơ sở vị trí việc làm và cơ cấu công chức phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và khối lượng công việc của từng bộ, cơ quan trung ương. Đồng thời, đối tượng lao động hợp đồng được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 1 Chương I Phụ lục về nguyên tắc, tiêu chí và định mức; trong đó, định mức phân bổ theo tiêu chí biên chế đã bao gồm chi tiền lương, tiền công lao động và chi hoạt động cho các đối tượng hợp đồng lao động làm công việc thừa hành, phục vụ theo quy định. Tuy nhiên, đối tượng công chức của Bộ Quốc phòng biệt phái để thực hiện nhiệm vụ tại Bộ GDĐT (thực hiện theo vị trí việc làm) chưa được quy định tại Quyết định số 30/2021/QĐ-TTg.

Một số tồn tại, hạn chế khác

Bên cạnh các bất cập về cơ chế, chính sách, KTNN cũng chỉ ra một số tồn tại, hạn chế trong quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện nhiệm vụ tài chính – ngân sách, quản lý tài sản công tại Bộ GDĐT và các đơn vị liên quan.

Đối với chi đầu tư phát triển, việc lập, phân bổ vốn cho các dự án chưa sát với tình hình thực hiện; tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công thấp; phê duyệt một số dự án còn thiếu nội dung về dự kiến phân bổ nguồn vốn sử dụng theo tiến độ. Đồng thời, công tác thiết kế - dự toán, thẩm tra, thẩm định còn hạn chế, dẫn đến thừa thiếu về khối lượng; một số gói thầu chậm tiến độ so với hợp đồng ban đầu, phải gia hạn thời gian thực hiện hợp đồng.

Cùng với đó, công tác thương thảo và ký kết hợp đồng còn tồn tại: chủ đầu tư ký hợp đồng tư vấn ủy thác quản lý dự án với giá trị phần trăm trên tổng số chi phí quản lý dự án theo định mức chưa có cơ sở, chưa căn cứ theo tiêu chí cụ thể. Một số Trường chưa lập kế hoạch đầu tư công trung hạn từ nguồn thu hợp pháp để đầu tư; chưa được Bộ GDĐT phê duyệt kế hoạch đầu tư hằng năm (năm 2024) theo quy định.

Ngoài ra, theo quyết định phê duyệt dự án, hình thức quản lý dự án là Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành (Bộ GDĐT), chủ đầu tư và Ban QLDA ký hợp đồng ủy thác quản lý dự án là cách thức không được quy định tại Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 03/3/2021. Đến nay, chưa có hướng dẫn cụ thể về việc thực hiện đối với hình thức quản lý dự án là Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành, kể cả khi Nghị định số 175/2024/NĐ-CP ngày 30/12/2024 có hiệu lực từ ngày 31/12/2024 thay thế Nghị định số 15/2021/NĐ-CP.

Đối với chi thường xuyên, một số đơn vị chưa lập dự toán chi từ nguồn phí khấu trừ được để lại, chi từ nguồn thu hoạt động sự nghiệp, sản xuất kinh doanh dịch vụ và các nguồn khác. Về lập dự toán kinh phí cấp bù sư phạm, một số đơn vị chưa thuyết minh chi tiết số sinh viên hiện có làm cơ sở rà soát, xác định nhu cầu, phân bổ, giao dự toán.

Đáng lưu ý, phân bổ dự toán kinh phí không thường xuyên đối với một số nội dung chi đã có trong định mức phân bổ dự toán chi quản lý nhà nước theo Quyết định số 30/2021/QĐ-TTg chưa phù hợp, với số tiền 42.353 triệu đồng. Bên cạnh đó, việc cắt giảm chi hỗ trợ trực tiếp từ NSNN so với dự toán năm 2023 còn thiếu 7.947,8 triệu đồng so với quy định do mới chỉ cắt giảm 2,5% mức chi hỗ trợ trực tiếp từ NSNN của các đơn vị nhóm 3. Đồng thời, việc cắt giảm, tiết kiệm 5% chi thường xuyên năm 2024 theo Nghị quyết số 119/NQ-CP ngày 07/8/2024 của Chính phủ chưa đầy đủ; phương án phân bổ kinh phí cấp bù sư phạm cho 23 cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng trực thuộc Bộ chưa thuyết minh rõ tiêu thức phân bổ.

Đối với thu chi sự nghiệp và hoạt động sản xuất, kinh doanh, còn chương trình chất lượng cao, tiên tiến thu theo đề án được phê duyệt nhưng chưa được kiểm định; thu các lớp đào tạo ngắn hạn, thu khác chưa thuyết minh cơ sở tính toán xây dựng mức thu. Việc thu cho thuê cơ sở vật chất năm 2024 chưa phản ánh đầy đủ doanh thu trong năm; chưa xây dựng hoặc chưa được phê duyệt Đề án sử dụng tài sản công. Ngoài ra, việc thực hiện giờ giảng, giờ nghiên cứu khoa học chưa đúng định mức; chưa hoàn thành việc xây dựng và ban hành ĐMKTKT áp dụng chung trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo theo phân cấp quản lý làm căn cứ cho các cơ sở giáo dục đại học xây dựng ĐMKTKT riêng.

Đối với chuyên đề sắp xếp lại, xử lý nhà, đất theo Nghị định số 167/2017/NĐ-CP và Nghị định số 67/2021/NĐ-CP, giai đoạn 2018-2024, Bộ GDĐT có 88 cơ sở nhà, đất thuộc phạm vi, đối tượng sắp xếp lại và xử lý phải lập phương án đề xuất Bộ Tài chính phê duyệt. Trong đó, 10 cơ sở chưa hoàn thành phương án sắp xếp theo Quyết định số 09/2007/QĐ-TTg phải đề xuất phê duyệt phương án sắp xếp lại; và 78 cơ sở nhà, đất chưa thực hiện đầy đủ trình tự, thủ tục sắp xếp lại, xử lý theo quy định.

Mặt khác, một số đơn vị lập báo cáo kê khai, đề xuất phương án theo Nghị định số 167/2017/NĐ-CP đối với các cơ sở nhà, đất đã được phê duyệt phương án theo Quyết định số 09/2007/QĐ-TTg và cả đối với các cơ sở nhà, đất không thuộc phạm vi, đối tượng phải lập phương án. Công tác tổng hợp báo cáo cơ sở nhà, đất thuộc đối tượng phải sắp xếp chưa đầy đủ, chính xác.

Đáng chú ý, do công tác quản lý trước đây chưa chặt chẽ, tại một số nơi xảy ra tình trạng cá nhân, hộ gia đình sử dụng trái phép hoặc lấn chiếm đất và tranh chấp, khiếu kiện kéo dài từ nhiều năm nhưng đến nay chưa được xử lý dứt điểm theo quy định. Bên cạnh đó, còn một số cơ sở nhà, đất sử dụng kém hiệu quả hoặc không sử dụng.

Kiến nghị kiểm toán

Kiến nghị đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo

Trên cơ sở kết quả kiểm toán, KTNN kiến nghị Bộ GDĐT thực hiện xử lý tài chính 51.891 triệu đồng, gồm: tăng thu ngân sách nhà nước 38.322,8 triệu đồng; thu hồi, giảm chi ngân sách nhà nước 13.568,8 triệu đồng.

Đồng thời, KTNN kiến nghị khác 29.142 triệu đồng, gồm: hoàn trả học phí 1.819,5 triệu đồng; xử lý khác các dự án đầu tư xây dựng 26.996,7 triệu đồng; thu hồi các khoản chi chưa đúng quy định đối với các dự án/hạng mục từ nguồn thu hợp pháp của các Trường 326 triệu đồng.

Bên cạnh đó, KTNN kiến nghị Bộ GDĐT và các đơn vị được kiểm toán chấn chỉnh, rút kinh nghiệm đối với các tồn tại, hạn chế.

Về chi đầu tư phát triển, cần chấn chỉnh công tác thẩm định và phê duyệt dự án; có giải pháp thu hồi số tạm ứng quá hạn theo quy định; có phương án xử lý đối với phần vốn của dự án không được kéo dài, bảo đảm không xảy ra nợ đọng xây dựng cơ bản. Đồng thời, chỉ đạo chủ đầu tư phối hợp với nhà thầu và các đơn vị liên quan xác định nguyên nhân chậm tiến độ và xử lý theo quy định; khẩn trương thẩm tra, phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành đối với hồ sơ đã trình, rà soát, đôn đốc lập, trình hồ sơ quyết toán đối với các dự án đã hoàn thành. Ngoài ra, chấn chỉnh việc báo cáo đầy đủ về xây dựng kế hoạch vốn đầu tư, báo cáo tình hình giải ngân vốn đầu tư từ nguồn thu hợp pháp; hoàn thiện công tác lập, trình phê duyệt chủ trương đầu tư và dự án; lựa chọn nhà thầu, thương thảo, ký kết và điều chỉnh hợp đồng; quản lý tiến độ, chất lượng gói thầu; quản lý chi phí; đăng ký nhu cầu vốn sát thực tế.

Về chi thường xuyên và thu chi hoạt động sự nghiệp, dịch vụ, cần chấn chỉnh việc lập, phân bổ, giao dự toán; bổ sung thuyết minh cơ sở phân bổ kinh phí; thực hiện đầy đủ cắt giảm, tiết kiệm 5% chi thường xuyên năm 2024 theo Nghị quyết số 119/NQ-CP ngày 07/8/2024. Đồng thời, thực hiện kiểm định chương trình đào tạo theo quy định của Luật số 34/2018/QH14; chấm dứt việc sử dụng tài sản công vào mục đích cho thuê, liên doanh, liên kết khi chưa có Đề án hoặc Đề án chưa đúng quy định của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công; có giải pháp khắc phục tồn tại về giờ giảng, giờ nghiên cứu khoa học, bảo đảm thực hiện đúng quy định; thực hiện kiểm định đối với các chương trình chất lượng cao, chương trình tiên tiến đã có khóa tốt nghiệp theo quy định.

Cùng với đó, Bộ GDĐT cần phối hợp với Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính để được hướng dẫn cách thức thực hiện quản lý dự án đối với trường hợp chủ đầu tư là các đơn vị trực thuộc, không phải Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành và được phê duyệt hình thức quản lý dự án là Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 24 Nghị định số 175/2024/NĐ-CP ngày 30/12/2024.

Đối với chuyên đề sắp xếp lại, xử lý nhà, đất, KTNN kiến nghị Bộ GDĐT phối hợp UBND các tỉnh, thành phố và các Bộ, ngành liên quan đẩy nhanh giải phóng mặt bằng; tháo gỡ vướng mắc khiếu nại; xây dựng kế hoạch tổng thể, xác định lộ trình, thời gian thực hiện việc sắp xếp lại, xử lý nhà, đất đúng quy định. Đồng thời, chỉ đạo quyết liệt, hướng dẫn các đơn vị rà soát, báo cáo, kê khai đầy đủ, chính xác, đủ hồ sơ pháp lý và đề xuất phương án sắp xếp, xử lý đối với tất cả cơ sở nhà, đất đang quản lý, sử dụng nhưng chưa được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; thực hiện đầy đủ trình tự, thủ tục theo quy định. Bên cạnh đó, cần có biện pháp thu hồi đất bị lấn chiếm, tranh chấp, khiếu kiện để bàn giao theo quy định; rà soát các cơ sở nhà, đất bỏ trống, không sử dụng hoặc sử dụng kém hiệu quả nhằm có biện pháp xử lý, ngăn ngừa lãng phí tài sản công. Đồng thời chấn chỉnh, rút kinh nghiệm trong công tác triển khai phương án sắp xếp, xử lý còn chậm; chưa kiểm tra việc thực hiện phương án đã được phê duyệt; chưa xử lý dứt điểm tình trạng sử dụng tài sản công như cho thuê khi chưa được phép hoặc chưa có Đề án được phê duyệt.

Ngoài ra, KTNN kiến nghị Bộ GDĐT xây dựng, ban hành các văn bản hướng dẫn cần thiết, gồm: hướng dẫn xây dựng ĐMKTKT trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo; hướng dẫn quy trình, thẩm định ban hành ĐMKTKT và phương pháp định giá dịch vụ giáo dục, đào tạo theo Thông tư số 14/2024/TT-BGDĐT, trong đó hướng dẫn rõ chi phí thuế TNDN không có trong cấu thành giá dịch vụ giáo dục, đào tạo; tổng kết, đánh giá vướng mắc trong kiểm định chất lượng chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài để ban hành hướng dẫn cụ thể về quy trình, tiêu chuẩn kiểm định, bảo đảm tính khả thi và phù hợp điều kiện thực tiễn, đáp ứng quy định tại khoản 25 Điều 1 (sửa đổi, bổ sung khoản 7 Điều 45) Luật số 34/2018/QH14.

Kiến nghị đối với Bộ Tài chính

Đối với Bộ Tài chính, KTNN đề nghị khi xét duyệt quyết toán NSNN năm 2024 của Bộ GDĐT lưu ý xem xét: (i) xác định mức giảm tỷ lệ phần trăm chi hỗ trợ trực tiếp từ NSNN đối với các đơn vị tự chủ nhóm 3 trực thuộc Bộ GDĐT; (ii) việc quyết toán một số khoản chi của dự toán đã được phân bổ 42.353 triệu đồng chưa phù hợp do đã có trong định mức phân bổ dự toán chi quản lý nhà nước theo tiêu chí biên chế quy định tại Quyết định số 30/2021/QĐ-TTg.

Đồng thời, KTNN kiến nghị Bộ Tài chính báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét khi xây dựng, quy định về tiêu chí, định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên NSNN trong thời gian tới, cần quy định cụ thể việc xác định chi phí quản lý hành chính của đối tượng công chức được biệt phái, làm cơ sở phân bổ, thực hiện dự toán ngân sách hằng năm.

Trên đây là một số nội dung, phát hiện chủ yếu của cuộc kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công năm 2024; chuyên đề kiểm toán việc quản lý, sử dụng, sắp xếp lại và xử lý nhà, đất theo Nghị định số 167/2017/NĐ-CP và Nghị định số 67/2021/NĐ-CP tại Bộ Giáo dục và Đào tạo.
 
Hà Linh