KỶ NIỆM 85 NĂM NGÀY BÁC HỒ VỀ NƯỚC: MẢNH ĐẤT CAO BẰNG VÀ HÀNH TRÌNH THẮP LÊN NGỌN LỬA CÁCH MẠNG
(Sav.gov.vn) - 85 năm trước, ngày 28/01/1941, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đặt chân về Tổ quốc sau 30 năm bôn ba nước ngoài tìm đường cứu nước. Từ Pác Bó - mảnh đất Cao Bằng nghèo khó nhưng giàu lòng yêu nước, Người đã thắp lên ngọn lửa cách mạng, mở ra giai đoạn chuẩn bị quyết định cho Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Sự kiện trọng đại này không chỉ đánh dấu bước ngoặt lịch sử của dân tộc mà còn để lại những bài học chiến lược vô giá cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.
QUYẾT ĐỊNH LỊCH SỬ VÀ BƯỚC CHÂN TRỞ VỀ
Sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước tại làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Tất Thành từ nhỏ đã chứng kiến cảnh nước mất nhà tan dưới ách đô hộ thực dân. Ngày 5 tháng 6 năm 1911, chàng thanh niên 21 tuổi rời bến cảng Sài Gòn trên con tàu Amiral Latouche Tréville với khát vọng tìm đường cứu nước.
Suốt 30 năm bôn ba khắp năm châu bốn biển, từ châu Âu, châu Mỹ đến châu Phi và châu Á, Nguyễn Ái Quốc đã trải qua nhiều công việc, tham gia phong trào công nhân quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc. Quan trọng hơn, Người đã tìm được chân lý cứu nước: chủ nghĩa Mác - Lênin. Từ Paris đến Mát-xcơ-va, từ Quảng Châu đến Hương Cảng, Người không ngừng học hỏi, hoạt động và chuẩn bị cho ngày trở về Tổ quốc.
Mốc son đầu tiên là Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam từ ngày 3 đến 7/2/1930 tại Hương Cảng, do Nguyễn Ái Quốc chủ trì. Sự ra đời của Đảng đã tạo nên bước ngoặt lịch sử, đưa cách mạng Việt Nam vào giai đoạn mới với sự lãnh đạo của một chính đảng cách mạng chân chính.
Đầu năm 1940, tình hình thế giới có những biến chuyển nhanh chóng. Ngày 15/6/1940, phát xít Đức tấn công nước Pháp. Chỉ một tuần sau, Thủ đô Paris thất thủ và Chính phủ Pétain đầu hàng phát xít. Nhận định sắc sảo tình hình, Nguyễn Ái Quốc khẳng định: "Đây là thời cơ thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi cách về nước để tranh thủ nắm thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng".
Ngày 28/1/1941, sau 30 năm xa Tổ quốc, Nguyễn Ái Quốc đã vượt qua cột mốc 108 (nay là cột mốc 675), đặt chân về Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Việc lựa chọn Cao Bằng không phải ngẫu nhiên. Người nhận định đây là vùng đất hội tụ đủ "thiên thời, địa lợi, nhân hòa" để xây dựng căn cứ địa cách mạng của cả nước. Cao Bằng có phong trào cách mạng tốt từ trước, kề sát biên giới, thuận lợi cho liên lạc quốc tế và phát triển lực lượng.
Từ ngày 8/2/1941, Người chuyển đến hang Cốc Bó, thôn Pác Bó để sống và làm việc. Nơi đây, bên dòng suối Lênin, núi Các Mác, trong hang đá nhỏ hẹp, vị lãnh tụ của dân tộc đã bắt tay vào công việc lớn lao: chuẩn bị mọi điều kiện để đưa cách mạng Việt Nam tiến lên đoạt chính quyền.
NHỮNG THÁNG NGÀY QUYẾT ĐỊNH TẠI CAO BẰNG
Hội nghị Trung ương lần thứ tám - định hướng chiến lược mới
Ngay sau khi về đến Pác Bó, từ ngày 10 đến 19/5/1941, Nguyễn Ái Quốc triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ tám tại lán Khuổi Nậm. Đây là hội nghị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đánh dấu sự chuyển hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam.
Hội nghị đã phân tích sâu sắc tình hình thế giới và trong nước, nhận định rõ kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương lúc bấy giờ, hoàn chỉnh sự chuyển hướng chiến lược từ cách mạng giai cấp sang giải phóng dân tộc. Hội nghị quyết định tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, chỉ tịch thu ruộng đất của đế quốc và Việt gian, thực hiện chính sách giảm tô, tạo điều kiện đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân.
Một quyết định lịch sử được đưa ra: thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) để tập hợp toàn thể nhân dân vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Về chính quyền, Hội nghị chỉ rõ không nên nói đến công nông liên hiệp và lập chính quyền Xô viết mà phải nói toàn thể nhân dân liên hợp và lập chính phủ dân chủ cộng hòa.
Đặc biệt, Hội nghị đã bàn về vấn đề khởi nghĩa vũ trang, nhận định rằng cuộc cách mạng Đông Dương phải kết thúc bằng một cuộc khởi nghĩa. Hội nghị cũng kiện toàn cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng, bầu đồng chí Trường Chinh làm Tổng Bí thư, tạo nền tảng vững chắc cho bước phát triển mới của cách mạng.
Xây dựng Mặt trận Việt Minh - khối đại đoàn kết toàn dân
Ngay khi về nước, Nguyễn Ái Quốc chỉ đạo công tác thí điểm xây dựng Mặt trận Việt Minh tại Cao Bằng. Phong trào phát triển nhanh chóng với các hội cứu quốc như thanh niên, phụ nữ, nông dân, phụ lão, nhi đồng. Tháng 4/1941, Hội nghị cán bộ Cao Bằng họp rút kinh nghiệm về tổ chức Mặt trận, tạo cơ sở cho quyết định chính thức thành lập Mặt trận Việt Minh tại Hội nghị Trung ương lần thứ tám.
Người đặc biệt chú trọng vận động quần chúng vì hiểu rằng cách mạng muốn thành công phải dựa vào lực lượng nhân dân. Người chỉ đạo thiết lập các "con đường quần chúng" từ Cao Bằng về miền xuôi, mở rộng phong trào "Nam tiến" để kết nối với Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Hà Giang, tạo điều kiện cho sự ra đời của khu giải phóng sau này.
Đào tạo cán bộ và công tác tuyên truyền
Song song với xây dựng cơ sở quần chúng, Nguyễn Ái Quốc trực tiếp chỉ đạo mở các lớp huấn luyện cán bộ với nội dung thiết thực, đi từ dễ đến khó, kết hợp lý luận với thực tiễn. Người đặc biệt nhấn mạnh vấn đề đạo đức cách mạng, coi đây là nền tảng của người cán bộ cách mạng.
Bác Hồ lội suối đi công tác ở chiến khu Việt Bắc. Ảnh: Tư liệu
Tháng 8/1941, báo Việt Nam Độc lập do Người trực tiếp phụ trách được xuất bản. Trong điều kiện hoạt động bí mật, tờ báo vẫn duy trì được nhiều số, vạch trần tội ác của đế quốc và tay sai, cổ vũ tinh thần đoàn kết cứu nước, ảnh hưởng vượt ra ngoài Cao Bằng.
Người cũng biên soạn nhiều tác phẩm bằng thể văn vần như "Con đường giải phóng", "Mười điều Việt Minh", "Lịch sử nước ta", "Địa dư Cao Bằng", "Việt Minh ngũ tự kinh" để hướng dẫn phong trào. Những tác phẩm này dễ hiểu, dễ nhớ, phù hợp với trình độ dân trí, góp phần quan trọng trong việc giác ngộ và vận động quần chúng.
Thành lập lực lượng vũ trang và chuẩn bị khởi nghĩa
Đến cuối năm 1944, trước yêu cầu thực tiễn và thời cơ có nhiều biến chuyển, Người chỉ rõ đấu tranh phải tiến dần từ chính trị sang quân sự nhưng "chính trị trọng hơn quân sự". Người chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân.
Ngày 22/12/1944, Đội được thành lập tại khu rừng thuộc Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, gồm 34 chiến sĩ với 34 khẩu súng các loại, do đồng chí Võ Nguyên Giáp làm chỉ huy. Chấp hành chỉ thị "phải đánh thắng trận đầu", Đội lần lượt giành thắng lợi tại Phai Khắt ngày 25/ 12 và Nà Ngần ngày 26/12/ 1944, gây tiếng vang lớn, cổ vũ mạnh mẽ phong trào cách mạng trong cả nước.
Xây dựng quan hệ quốc tế
Tháng 8/1942, Người lấy tên Hồ Chí Minh, sang Trung Quốc với tư cách đại biểu của phong trào Việt Minh. Tuy nhiên, Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt và giam cầm hơn một năm, giải qua hơn 30 nhà lao thuộc 13 huyện ở tỉnh Quảng Tây. Trong tù, Người viết "Nhật ký trong tù" - tác phẩm bất hủ của văn học Việt Nam.
Tháng 2/1945, Người sang Côn Minh tham dự Hội nghị Đồng minh chống phát xít, trực tiếp liên lạc với quân đội Đồng minh, chủ động đặt quan hệ với Mỹ, tranh thủ sự giúp đỡ vật chất và hạn chế sự phá hoại của Quốc dân Đảng Trung Hoa.
Khi thời cơ tổng khởi nghĩa đến gần, tháng 5/1945, Người quyết định chuyển trung tâm lãnh đạo từ Pác Bó về Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang để thuận tiện chỉ đạo phong trào toàn quốc. Từ Tân Trào, Người chỉ thị thành lập Khu giải phóng Việt Bắc, thống nhất lực lượng vũ trang thành Việt Nam Giải phóng quân và kêu gọi tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước, dẫn đến thành công vang dội của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Ý NGHĨA LỊCH SỬ VÀ BÀI HỌC CHO NGÀY NAY
Sự kiện Bác Hồ về nước mùa xuân năm 1941 mở ra giai đoạn phát triển mới của cách mạng Việt Nam, giai đoạn chuẩn bị về mọi mặt để tiến tới Tổng khởi nghĩa và thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Việc Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc đã đáp ứng đòi hỏi khách quan của phong trào cách mạng trong nước và tiến trình lịch sử đấu tranh giành độc lập, giải phóng dân tộc.
Người đã cùng Trung ương Đảng hoàn chỉnh chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, phát triển đường lối cách mạng giải phóng dân tộc, quy tụ lực lượng toàn Đảng, toàn dân vào mục tiêu cao nhất là giành độc lập dân tộc, giành chính quyền về tay nhân dân. Từ đó, phong trào đấu tranh được thúc đẩy mạnh mẽ trên phạm vi cả nước, hệ thống tổ chức Đảng từ Trung ương đến cơ sở được củng cố, tạo nền tảng vững chắc cho bước phát triển quyết định của cách mạng.
Sự kiện này để lại những bài học chiến lược vô giá cho cách mạng Việt Nam.
Thứ nhất là xây dựng căn cứ địa và lực lượng cách mạng. Pác Bó đã chứng minh tầm quan trọng của việc có một căn cứ địa vững chắc làm nơi tập hợp lực lượng, là trung tâm lãnh đạo phong trào cách mạng.
Thứ hai là dự báo và nhận định đúng tình hình, xu thế vận động của cách mạng. Người đã biết nắm bắt thời cơ khi tình hình thế giới thay đổi, kịp thời chuyển hướng chỉ đạo chiến lược phù hợp với thực tiễn.
Thứ ba là xác định đúng thời cơ và nhiệm vụ cách mạng. Người hiểu rằng thời cơ không tự nhiên mà có, phải biết nắm bắt và tạo ra thời cơ thông qua đấu tranh kiên trì, chuẩn bị chu đáo về mọi mặt.
Thứ tư là xây dựng thế trận lòng dân tuyệt đối trung thành với Đảng và cách mạng. Người luôn coi trọng vai trò của nhân dân, xuất phát từ lợi ích của nhân dân, dựa vào lực lượng nhân dân để làm nên thắng lợi.
Thứ năm là tập hợp, xây dựng lực lượng cách mạng trong một mặt trận thống nhất rộng rãi. Mặt trận Việt Minh đã tập hợp được các tầng lớp nhân dân, các dân tộc vào khối đại đoàn kết, tạo sức mạnh to lớn cho cách mạng.
Thứ sáu là xây dựng Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Người đặc biệt chú trọng công tác xây dựng Đảng, đào tạo cán bộ, coi đây là yếu tố quyết định sự thành công của cách mạng.
CAO BẰNG - NƠI KHỞI NGUỒN TIẾP TỤC PHÁT TRIỂN
Cao Bằng vinh dự và tự hào được đón Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về Tổ quốc năm 1941 và được Người chọn làm căn cứ địa cách mạng đầu tiên của cả nước. Pác Bó được xem là "Cội nguồn cách mạng" và "Chiếc nôi của cách mạng Việt Nam". Tình cảm sâu nặng của Người với Cao Bằng được thể hiện qua lần trở lại thăm tỉnh năm 1961, khi Người gọi đây là chuyến "về thăm nhà".
Trong các cuộc kháng chiến, Nhân dân Cao Bằng đã đóng góp xương máu và sức lực to lớn với hơn 8.000 người con anh dũng hy sinh, góp phần vào các thắng lợi lịch sử vĩ đại như Cách mạng Tháng Tám, Chiến thắng Biên giới năm 1950, Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, Đại thắng mùa Xuân năm 1975 và bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979. Với những thành tích xuất sắc, Cao Bằng đã được trao tặng Huân chương Sao Vàng và Huân chương Hồ Chí Minh.
Sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã trở về Tổ quốc thân yêu
Sau 40 năm đổi mới, Đảng bộ và Nhân dân Cao Bằng tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, ý chí tự lực, tự cường. Mặc dù là tỉnh miền núi xuất phát điểm thấp, Cao Bằng đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, toàn diện trên các lĩnh vực. Các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội hằng năm đều đạt và vượt kế hoạch.
Cao Bằng đã tạo ra bước đột phá chiến lược với Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm như Sân bay Cao Bằng, đường bộ cao tốc Đồng Đăng - Trà Lĩnh và Bắc Kạn - Cao Bằng đang được triển khai, mở ra kỳ vọng về đột phá hạ tầng giao thông. Việc mở mới các cặp cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu song phương và vận hành Khu cảnh quan thác Bản Giốc - Đức Thiên đã định vị lại vai trò chiến lược của Cao Bằng.
Kỷ niệm 85 năm ngày Bác Hồ trở về nước diễn ra trong không khí cả nước phấn khởi chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Đây là dịp để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn vô hạn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiếp tục khẳng định giá trị trường tồn của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên phát triển mới.
Kỷ niệm sự kiện trọng đại này là lời nhắc nhở sâu sắc về trách nhiệm hôm nay: phải luôn kiên định mục tiêu, giữ vững niềm tin, học tập và làm theo Bác bằng những việc làm cụ thể. Từ Pác Bó - nơi Bác Hồ về nước năm 1941, ngọn lửa cách mạng đã lan tỏa khắp đất nước, thắp sáng con đường độc lập, tự do, hạnh phúc của dân tộc. Hôm nay, chúng ta tiếp tục giữ gìn và phát huy ngọn lửa ấy, kiên định con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn, vững bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên giàu mạnh, thịnh vượng của dân tộc Việt Nam.