Chuyên đề
Quan niệm của Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của đạo đức trong đời sống cá nhân và xã hội
Hiện nay, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đang đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức trong sáng, cao đẹp Hồ Chí Minh. Thực hành đạo đức Hồ Chí Minh trong thực tiễn cuộc sống trước hết phải bắt đầu từ việc nhận thức, lĩnh hội và quán triệt sâu sắc hệ thống quan điểm Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, đạo đức mới.
So với các lãnh tụ cách mạng trên thế giới và trong khu vực, Hồ Chí Minh là người đặc biệt quan tâm đến vấn đề đạo đức, nhân cách và lối sống của con người, xã hội. Trong quá trình hoạt động cách mạng, từ khi ra đi tìm đường cứu nước (năm 1911) đến khi từ giã cõi đời, Hồ Chí Minh đã có tới 55 bài viết, tác phẩm lớn chuyên bàn về đạo đức của xã hội, con người Việt Nam mới; Người đề cập đạo đức một cách toàn diện, sát thực và cụ thể, bao gồm mọi đối tượng mà trước hết là đạo đức của cán bộ, đảng viên trong điều kiện Đảng cầm quyền; mọi lĩnh vực hoạt động của con người; mọi phạm vi, quy mô; những quan hệ chủ yếu nhất của con người: đối với mình, đối với người và đối với công việc.

Trong di sản tư tưởng - lý luận của mình, Hồ Chí Minh nhất quán một quan niệm: luôn luôn xác định đạo đức là gốc, cội rễ, là nền tảng của con người, của xã hội. Cũng như cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo; sông phải có nguồn, không có nguồn thì sông cạn; con người, xã hội phải có đạo đức làm nền tảng mới tồn tại và phát triển được. Quan niệm đúng đắn của Hồ Chí Minh là sự tiếp nối lịch sử mang tính sáng tạo các giá trị văn hoá truyền thống Việt Nam và phương Đông.

Người Việt Nam vốn dĩ trong chiều dài lịch sử rất coi trọng, đề cao đạo đức, đạo lý sống và nhân cách làm người. Sinh ra, trưởng thành và cho đến khi mất đi, mỗi người, suy đến cùng cũng chỉ thực hiện ba sứ mệnh lớn lao: Làm người, dựng làng, giữ nước. Quan hệ nhân nghĩa, trọng tình thương, lẽ phải là nét chủ đạo trong văn hoá sinh hoạt Việt Nam, tạo nên một mạch nguồn truyền thống, chảy mãi đến vô cùng: "Trồng cây đức để cho con". Ai làm được điều đó là hợp lẽ đời và hợp đạo trời, được người đời tôn trong, kính nể.

Văn hoá phương Đông, nhất là Nho giáo càng đặc biệt chú trọng đạo đức, hình thành một phương thức trị nước điển hình: "Đức trị". Nho giáo chủ trương tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ; sự nghiệp lớn chỉ có thể bắt đầu từ một việc nhỏ: Tu tâm dưỡng tính để có nhân cách tốt, lương thiện. Nho giáo cho rằng, người lãnh đạo, quản lý, người trị nước mà đạt đến đức nhân thì xứng đáng được đứng vào vị trí của Sao Bắc Đẩu, một ngôi sao mà tất cả các ngôi sao khác đều phải hướng tới. Lĩnh hội các giá trị tích cực của Nho giáo, Hồ Chí Minh nhận thấy: Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân và Người đưa ra lời khuyên rất thực tế nhưng lại có chiều sâu văn hoá: Đối với mỗi người cách mạng Việt Nam, về lý luận thì đọc các tác phẩm của V.I. Lênin, và về đạo đức thì học các bài học đạo đức của Khổng Tử - người thầy, bậc thánh nhân của mọi thời đại.

Đứng vững trên mạch nguồn đạo lý làm người của dân tộc, Hồ Chí Minh cảm nhận một cách thực tế sức mạnh to lớn của đạo đức và giá trị uy quyền của nó. Người nhiều lần chỉ rõ: Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa, người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, nếu không có đạo đức làm nền tảng, làm cái căn bản thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Hồ Chí Minh cũng đã từng cảnh báo, đối với người cộng sản, không phải dương dương tự đắc viết lên trán hai chữ "cộng sản" là được nhân dân kính trọng và yêu mến; dân chỉ quý trọng những người có tư cách đạo đức. Vai trò sức mạnh của đạo đức được Hồ Chí Minh nhìn nhận trên các bình diện:

- Có đạo đức cách mạng mới hoàn thành được sự nghiệp cách mạng vẻ vang. Sự nghiệp cách mạng của chúng ta là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, làm cho người Việt Nam từ nghèo đói trở nên đủ ăn, từ đủ ăn trở nên khá, từ khá trở nên giàu và giàu thì lại càng giàu thêm. Sự nghiệp đó rất cao cả và nhân văn, đòi hỏi phải có những phẩm chất tương ứng.

- Đạo đức là tiêu chí đánh giá sự văn minh, cao thượng của xã hội, con người. Người có đạo đức là người cao thượng; một dân tộc, mặc dầu kinh tế còn lạc hậu, nhưng có được đạo đức cần, kiệm, liêm, chính thì vẫn xứng đáng là một dân tộc văn minh.

- Đạo đức giúp cho con người luôn giữ được nhân cách, bản lĩnh làm người trong mọi hoàn cảnh, không dễ bị thay đổi trước những xoay vần, biến thiên của thời cuộc: Giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể lay chuyển, sức mạnh không thể khuất phục.

- Đạo đức là gốc, là nguồn, là nền tảng, bởi lẽ, có tâm, có đức mới giữ vững được chủ nghĩa Mác - Lênin, đưa chủ nghĩa Mác - Lênin vào cuộc sống. Trong mối quan hệ giữa đạo đức và trí tuệ, đức và tài, Hồ Chí Minh đã nêu một quan điểm lớn: Phải có đức để đi đến cái trí. Vì khi đã có cái trí, thì cái đức chính là cái đảm bảo cho người cách mạng giữ vững chủ nghĩa mà mình đã giác ngộ, đã chấp nhận, đã đi theo.

Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, cấu trúc nhân cách bao gồm hai mặt: đạo đức và tài năng, phẩm chất và năng lực, hồng và chuyên, trong đó, Người xác định đạo đức, phẩm chất, hồng là gốc, là nền tảng, nhưng điều đó không có nghĩa là tuyệt đối hoá mặt đức, coi nhẹ mặt tài. Đức là gốc, nhưng đức và tài phải kết hợp, phải đi đôi, không thể có mặt này, thiếu mặt kia. Hồ Chí Minh đã nói rất rõ, người có đức mà không có tài giống như ông Bụt ngồi trong chùa, không làm hại ai, nhưng cũng chẳng giúp ích gì cho ai. Ngược lại, nếu có tài mà không có đức, thì cũng chẳng khác gì một anh làm kinh doanh giỏi, đem lại nhiều lãi nhưng lãng phí, tham ô, ăn cắp của công, thì như vậy chỉ có hại cho dân, cho nước, còn sự nghiệp của bản thân thì sớm muộn cũng đổ vỡ. Người thực sự có trí thì bao giờ cũng cố gắng học tập, nâng cao trình độ, nâng cao năng lực, tài năng, nghiệp vụ để hoàn thành tốt, có hiệu quả, trong thời gian ngắn nhất mọi nhiệm vụ được giao. Khi đã thấy rằng không vươn lên được thì đối với ai có tài hơn mình, mình sẵn sàng học tập, ủng hộ và sẵn sàng nhường bước, để họ bước lên trước. Quan niệm đức là gốc, là nền tảng của con người, của xã hội ở Hồ Chí Minh phải được hiểu trong mối quan hệ đa chiều và biện chứng như vậy.

Từ nhận thức, quan niệm khoa học trên bình diện lý thuyết, Hồ Chí Minh áp dụng vào công tác giáo dục, xây dựng con người, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ. Hồ Chí Minh đề xuất quan điểm giáo dục con người một cách toàn diện, nhưng trước hết phải chú trọng giáo dục đạo đức, nhân cách, lối sống để đạt được mục tiêu cao cả của việc học là để làm việc, làm người, làm cán bộ. Đối với từng loại cán bộ, Hồ Chí Minh xây dựng một hệ các tiêu chuẩn quy chiếu nhằm đánh giá, lựa chọn, sử dụng, nhưng bao giờ Người cũng ưu tiên cho những tiêu chuẩn thuộc về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Hồ Chí Minh cho rằng, nếu chuyên môn, nghiệp vụ có hạn chế, nhưng người cán bộ có đức, thực sự trọng dụng hiền tài thì sẽ thu hút nhân tài, lôi kéo được nhiều người có năng lực, góp chung trí tuệ để gánh vác công việc của Đảng, của nhân dân. Uy quyền đạo đức, sự trong sáng về nhân cách sẽ có sức lan toả, huy động lương tri, tạo nên khả năng tập hợp lực lượng, dựa trên cơ sở vững chắc là tình thương và lẽ phải.

Hồ Chí Minh là một bậc thầy trong việc nhìn người, dùng người đúng công đúng việc, phù hợp với tài năng và trình độ. Người có mong muốn là sử dụng hết người có tài, có đức của đất nước, không bỏ sót một ai, bởi Hồ Chí Minh hiểu rằng, hiền tài là của quý, là nguyên khí quốc gia. Ngay sau cách mạng tháng Tám thành công, Hồ Chí Minh đã hai lần viết thư cầu người hiền tài, động viên tất cả mọi người có tài, có đức ra cứu nước, giúp dân, làm cho Việt Nam trở thành một dân tộc độc lập, giàu mạnh, hùng cường, sánh vai với các cường quốc năm châu. Bằng tấm gương đạo đức cao đẹp, trong sáng của mình, Hồ Chí Minh đã quy tụ, tập hợp được dưới ngọn cờ đại nghĩa của Người nhiều nhân sĩ, trí thức của dân tộc, kể cả trong nước và sống ở nước ngoài, kể cả các quan đại thần của chế độ cũ: Huỳnh Thúc Kháng, Bùi Bằng Đoàn, Trần Đại Nghĩa, Lương Đình Của v.v... Họ tìm về với Hồ Chí Minh bởi khâm phục lòng nhân ái bao dung, đạo lý ở đời và làm người, khát vọng cao đẹp của Người đối với dân, với nước./.

TS. Phạm Ngọc Anh
Các bài đã đăng