Tin hoạt động
Tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong thực hiện nhiệm vụ kiểm toán và các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán
Tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong thực hiện nhiệm vụ kiểm toán và các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán là tên gọi của Chỉ thị 873/CT-KTNN được Tổng Kiểm toán nhà nước Hồ Đức Phớc ban hành ngày 27/5/2016. Sau 1 năm triển khai Chỉ thị, đã tạo sự chuyển biến tích cực trong việc nâng cao ý thức kỷ luật, kỷ cương trong thực hiện nhiệm vụ kiểm toán, góp phần đưa Ngành hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ kiểm toán năm 2016 và tiếp tục đạt được kết quả kiểm toán nổi bật trong 6 tháng đầu năm 2017.

 

Việc triển khai Chỉ thị 873/CT-KTNN tạo sự chuyển biến tích cực trong việc nâng cao ý thức kỷ luật, kỷ cương trong thực hiện nhiệm vụ kiểm toán

Nâng cao ý thức, kỷ luật, kỷ cương trong thực hiện nhiệm vụ kiểm toán

Ban cán sự Đảng, Đảng ủy và lãnh đạo KTNN luôn xác định việc nâng cao ý thức, kỷ luật, kỷ cương trong thực hiện nhiệm vụ kiểm toán là một trong những giải pháp thường xuyên, liên tục để nâng cao chất lượng kiểm toán. Tổng Kiểm toán nhà nước đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo điều hành nhằmtăng cường kiểm soát thông tin, kết quả kiểm toán, cũng như đẩy nhanh tiến độ thực hiện kiểm toán... các cấp ủy, đảng, lãnh đạo các đơn vị đã chủ động triển khai thực hiện với nhiều hình thức cụ thể phù hợp với tình hình thực tiễn nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của Kiểm toán trưởng, Trưởng đoàn, Tổ trưởng Tổ kiểm toán và từng Kiểm toán viêc (KTV) trong thực thi nhiệm vụ.  

Đặc biệt, thủ trưởng đơn vị và lãnh đạo chủ chốt các cấp đã tập trung triển khai, chỉ đạo quyết liệt, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị tư tưởng thông qua các buổi sinh hoạt chi bộ, kể cả chi bộ sinh hoạt tạm thời đối với Đoàn kiểm toán; đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh ở chi bộ theo chuyên đề gắn với việc đăng ký thi đua của từng đảng viên. 

Bên cạnh đó, việc ban hành Nghị quyết số 65/NQ-ĐU của Đảng ủy KTNN, đã tạo đột phá mạnh mẽ về chính trị, tư tưởng, văn hóa ứng xử trong cơ quan, trong đó đề cao ứng xử, đạo đức nghề nghiệp của KTV trong hoạt động công vụ, đảm bảo tất cả các hoạt động của KTV theo hướng “Công minh - Chính trực - Nghệ tinh - Tâm sáng” nhằm tăng cường, củng cố uy tín và tạo niềm tin của KTV cho công chúng, xã hội, Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan nhà nước. 

Thủ trưởng các đơn vị đã thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực thi nhiệm vụ của công chức, viên chức và người lao động trong đơn vị bằng nhiều hình thức, hầu hết các đơn vị đều yêu cầu đảng viên cam kết thực hiện giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, không suy thoái, không “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và đăng ký kế hoạch làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Thủ trưởng các đơn vị đã thực hiện tốt công tác dân chủ, minh bạch trên cơ sở xác định rõ trách nhiệm của công chức theo từng vị trí công tác, đặc biệt là việc thực hiện Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp; Quy chế làm việc của KTNN, Quy tắc ứng xử của KTV nhà nước; Quy chế tổ chức và hoạt động của Đoàn KTNN luôn được quán triệt, phổ biến trước, trong và sau khi kết thúc hoạt động kiểm toán tại các Đoàn kiểm toán. Việc kiểm soát của Trưởng đoàn, Phó Trưởng Đoàn kiểm toán và Tổ trưởng Tổ kiểm toán được thực hiện nghiêm theo chế độ kiểm soát của ngành, các đơn vị đã ban hành quy chế kiểm soát gắn với đặc thù của đơn vị để kiểm soát chặt chẽ mọi hoạt động của Đoàn kiểm toán trong quá trình thực thi nhiệm vụ. 

Đối với công tác chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm toán, KHKT năm của KTNN được tiến hành chủ động, thận trọng, có sự phối hợp, tham gia ý kiến của các cơ quan có liên quan và đảm bảo tính tuân thủ pháp luật, khoa học, chặt chẽ, minh bạch và công khai. Bên cạnh đó, Tổng Kiểm toán nhà nước luôn yêu cầu trong quá trình kiểm toán, các Đoàn kiểm toán phải nghiêm túc tuân thủ KHKT đã được duyệt, chấp hành thực hiện đúng quy trình, chuẩn mực KTNN đã ban hành. Trước khi triển khai kế hoạch các cuộc kiểm toán, Thủ trưởng các đơn vị cùng với lãnh đạo các cấp đã tổ chức các buổi tọa đàm, tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ chuyên sâu theo từng lĩnh vực kiểm toán để phổ biến, quán triệt các giải pháp tổ chức thực hiện nhằm thống nhất nguyên tắc, nhận thức và phương pháp thực hiện. 

Về cơ bản, KHKT của Đoàn kiểm toán đã bám sát các hướng dẫn, định hướng của ngành cũng như phương án tổ chức kiểm toán được duyệt, các cuộc kiểm toán chuyên đề đã được các Đoàn kiểm toán tập trung bố trí nhân lực, thời gian kiểm toán theo đề cương đã được Tổng KTNN duyệt. Hầu hết các KHKT của Đoàn kiểm toán đã tập trung phân tích, đánh giá sâu sắc hơn, đầy đủ hơn các thông tin, tài liệu thu thập được để xác định trọng tâm, mục tiêu, nội dung, phạm vi và phương pháp kiểm toán phù hợp, trong đó tăng cường kiểm toán tổng hợp nhằm đánh giá sâu và toàn diện công tác quản lý, điều hành của từng cấp sử dụng tài chính công, tài sản công.
Khi tổ chức công bố quyết định kiểm toán tại các Bộ, cơ quan trung ương hoặc các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ngoài thành phần là lãnh đạo Bộ, cơ quan trung ương, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được kiểm toán, hầu hết các đơn vị đã mời mở rộng thành phần là đại diện Ban cán sự Đảng Bộ, cơ quan trung ương hoặc đại diện Thường trực Tỉnh ủy, Thành ủy và Thường trực HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nhằm truyền tải sâu rộng hoạt động của KTNN trong thời gian thực hiện nhiệm vụ kiểm toán tại đơn vị, đồng thời tạo dựng mối quan hệ phối hợp tốt trong hoạt động kiểm toán với các đơn vị được kiểm toán. 

Quá trình thực hiện nhiệm vụ kiểm toán, hầu hết các Đoàn kiểm toán, Tổ kiểm toán đã tuân thủ nghiêm Quy chế tổ chức và hoạt động của đoàn KTNN, tăng cường công tác tự kiểm tra, giám sát, đôn đốc thực hiện kế hoạch, nhiệm vụ được giao, việc chấp hành các quy định của KTNN trong hoạt động kiểm toán, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, quy tắc ứng xử của KTV nhà nước. Thủ trưởng các đơn vị đã chú trọng chỉ đạo các Đoàn kiểm toán, Tổ kiểm toán thực hiện kiểm toán có trọng tâm, trọng điểm, không dàn trải mục tiêu, nội dung kiểm toán. Chế độ báo cáo định kỳ theo từng cấp về tiến độ, kết quả kiểm toán về cơ bản được duy trì tốt góp phần xử lý kịp thời những vướng mắc, chỉ đạo thực hiện đúng mục tiêu, trọng tâm kiểm toán; sự phối hợp, trao đổi thông tin giữa đơn vị chủ trì và các đơn vị liên quan trong ngành đối với các cuộc kiểm toán chuyên đề được tăng cường, xử lý thống nhất các vấn đề phát sinh ngay trong quá trình thực hiện kiểm toán.

Ngoài việc KSCLKT của Tổng Kiểm toán nhà nước theo quy định, tại các KTNN chuyên ngành, khu vực hoạt động KSCLKT đã được triển khai thực hiện nghiêm túc, trong đó 100% các đơn vị đã cụ thể hóa, quy định chi tiết việc thực hiện Quy chế KSCLKT, phát huy vai trò tham mưu của Phòng Tổng hợp. Các Kiểm toán trưởng, Trưởng Đoàn kiểm toán đã thường xuyên kiểm tra, chấn chỉnh kịp thời việc ghi nhật ký kiểm toán điện tử và chỉ đạo tập trung kiểm toán các vấn đề trọng tâm trong KHKT đã được duyệt hoặc các vấn đề mới phát sinh cần làm rõ. Hầu hết các tổ KSCLKT thực hiện kiểm soát tại cơ quan, kiểm soát gián tiếp thông qua KHKT chi tiết của các tổ kiểm toán, báo cáo định kỳ của Trưởng Đoàn kiểm toán và nhật ký làm việc của KTV, hồ sơ kiểm toán, qua đó góp phần nâng cao nhận thức của đơn vị chủ trì cuộc kiểm toán, Đoàn kiểm toán về vai trò và chức năng của KSCLKT, đạo đức nghề nghiệp của KTV, từ đó đẩy mạnh thực hiện công tác KSCLKT trong từng đơn vị, từng đoàn, từng Tổ kiểm toán đi vào nề nếp và hiệu quả. Hội đồng thẩm định cấp vụ tại các đơn vị đã làm việc với tinh thần trách nhiệm cao, đóng góp nhiều ý kiến xác đáng nhằm nâng cao chất lượng KHKT, BCKT, gắn trách nhiệm của Trưởng Đoàn kiểm toán với chất lượng, tiến độ lập, phát hành BCKT. 

Năm 2016, KTNN đã ban hành hệ thống hồ sơ mẫu biểu mới tại Quyết định số 06/2016/QĐ-KTNN ngày 02/11/2016, theo đó mẫu BCKT được áp dụng theo hướng mở hơn, đặc biệt định hướng của Tổng Kiểm toán nhà nước tại Chỉ thị số 873/CT-KTNN đã tạo cơ sở cho việc đổi mới kết cấu BCKT theo hướng ngắn gọn, rõ ràng, đi thẳng vào bản chất vấn đề, một số BCKT chuyên đề và báo cáo kết quả kiểm toán năm, BCKT quyết toán ngân sách nhà nước được xây dựng khoa học, thể hiện được tính độc lập trong hoạt động của KTNN, nêu bật được nhiều vấn đề có tính thời sự, nhận được nhiều sự quan tâm của dư luận, như: Vấn đề nợ công có thể chưa được theo dõi, tổng hợp đầy đủ các khoản nợ Chính phủ, nợ chính quyền địa phương; công tác quản lý các dự án đầu tư theo hình thức hợp đồng BOT, BT còn bộc lộ nhược điểm, sai phạm; hiệu quả kinh doanh của một số tập đoàn, tổng công ty nhà nước thua lỗ lớn, âm vốn chủ sở hữu, xử lý các vấn đề tài chính trước khi cổ phần hóa và định giá doanh nghiệp vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế; tái cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng còn nhiều tồn tại, bất cập... Phần lớn các Trưởng Đoàn kiểm toán đều quan tâm đẩy nhanh tiến độ việc lập, thẩm định, xét duyệt và phát hành BCKT theo quy định của Luật KTNN, hầu hết các BCKT NSĐP của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đều được phát hành trước khi HĐND phê chuẩn quyết toán NSĐP. 

Bên cạnh những kết quả đạt được, trong quá trình thực hiện Chỉ thị, vẫn còn một số công chức và người lao động chưa chủ động và phát huy hết khả năng trong công việc được giao, thực hiện kiểm toán chủ yếu còn dựa vào kinh nghiệm, chưa có nhiều sáng tạo nên kết quả còn hạn chế; Việc áp dụng hệ thống chuẩn mực KTNN vào hoạt động kiểm toán còn hạn chế nhất định do một số nội dung hướng dẫn của chuẩn mực rộng, nhiều thuật ngữ còn chưa rõ, cần thời gian nghiên cứu và tiếp cận; Việc xác định trọng tâm, mục tiêu, nội dung kiểm toán của một số KHKT chưa căn cứ vào kết quả thu thập thông tin và đánh giá rủi ro, chủ yếu dựa vào hướng dẫn của ngành dẫn đến nhiều trọng tâm, mục tiêu, nội dung kiểm toán trong KHKT chưa phù hợp với thực tế; Một số đơn vị chưa thực sự quan tâm chỉ đạo, tổ chức thực hiện các cuộc kiểm toán chuyên đề và các nội dung lồng ghép kiểm toán, chủ yếu tập trung vào kiểm toán tài chính, chưa chú trọng kiểm toán các vấn đề về cơ chế, chính sách...; chất lượng KSCLKT có lúc, có nơi còn chưa cao, chưa đảm bảo được mục đích KSCLKT là kiểm soát tính đầy đủ, thích hợp của bằng chứng kiểm toán thu thập được làm căn cứ đưa ra kết luận, kiến nghị xác đáng, đảm bảo chất lượng của BCKT khi phát hành...

Một số nhiệm vụ, giải pháp thực hiện nâng cao chất lượng kiểm toán
      
Nhằm tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong thực hiện nhiệm vụ kiểm toán nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán, toàn Ngành KTNN xác định một số nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm trong thời gian tới, cụ thể: 

Cấp ủy, lãnh đạo các cấp tiếp tục quán triệt, nhận thức sâu sắc ý nghĩa, mục đích, nội dung Chỉ thị của Tổng Kiểm toán nhà nước gắn với việc thực hiện Chỉ thị số 26/CT-TTg ngày 5/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong các cơ quan hành chính các cấp; tổ chức chặt chẽ, nghiêm túc các hình thức, biện pháp học tập, quán triệt; coi trọng các hình thức sinh hoạt chính trị tư tưởng giúp công chức, viên chức và người lao động nhận thức đầy đủ, sâu sắc về ý nghĩa, mục đích, nội dung chỉ thị của trung ương, chỉ thị, công điện của Tổng Kiểm toán nhà nước.

Tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động công vụ; giám sát chặt chẽ việc thực hiện đạo đức nghề nghiệp và văn hóa ứng xử của KTV nhà nước; kiên quyết đấu tranh và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, những biểu hiện sai trái, tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. 

Bố trí thời gian, nhân lực khảo sát và lập KHKT của đoàn phù hợp với phương án tổ chức kiểm toán năm của đơn vị; thu thập đầy đủ thông tin để phân tích, đánh giá, lựa chọn lĩnh vực, nội dung kiểm toán trọng tâm theo định hướng của ngành, phù hợp với điều kiện cụ thể của đơn vị được kiểm toán; hoàn thiện phần mềm cơ sở dữ liệu thông tin về đơn vị được kiểm toán, tạo cơ sở dữ liệu khoa học, phục vụ cho nhu cầu khai thác thông tin về đơn vị được kiểm toán để rút ngắn thời gian khảo sát, tập trung cho việc tổ chức kiểm toán dựa trên phương pháp đánh giá rủi ro và xác định trọng yếu.   

Nâng cao hiệu quả chỉ đạo, điều hành của từng cấp quản lý thông qua việc bám sát tình hình kiểm toán, duy trì tốt chế độ báo cáo tiến độ và kết quả kiểm toán; kịp thời tổng hợp các kết quả kiểm toán nổi bật, quan trọng để phổ biến, nhân rộng trong toàn ngành, phục vụ công tác chỉ đạo của lãnh đạo KTNN; nâng cao hiệu quả, hiệu lực qua việc kiểm tra thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán. 

Nâng cao vai trò, trách nhiệm KSCLKT của Thủ trưởng đơn vị chủ trì cuộc kiểm toán, Trưởng Đoàn kiểm toán và Tổ trưởng Tổ kiểm toán, đảm bảo cho KTV, các đối tượng khác tham gia vào hoạt động kiểm toán tuân thủ nghiêm quy định của Luật KTNN, các chuẩn mực nghề nghiệp, đảm bảo chất lượng các BCKT khi phát hành; Vụ Chế độ và KSCLKT nâng cao vai trò, trách nhiệm KSCLKT theo quy định tại Quyết định 558/QĐ-KTNN, tập trung vào việc kiểm soát phát hiện, chỉ rõ những bất cập trong kết quả, kết luận và kiến nghị kiểm toán, tăng cường các cuộc KSCLKT trực tiếp và đột xuất để khắc phục, chấn chỉnh các hạn chế, thiếu sót ngay trong quá trình kiểm toán. 

Thủ trưởng các đơn vị chỉ đạo quyết liệt nhằm thay đổi nhận thức về việc triển khai các cuộc kiểm toán chuyên đề, lồng ghép trong phạm vi toàn ngành, coi các cuộc kiểm toán chuyên đề có ý nghĩa chính trị quan trọng trong hoạt động của ngành và của các đơn vị trực thuộc nhằm tập trung thời gian, nhân lực hợp lý để đánh giá được các vấn đề lớn về quản lý, cơ chế, chính sách, phục vụ tốt nhất cho việc tổng hợp kết quả kiểm toán chung trong toàn ngành.  

Đổi mới công tác thi đua, phương pháp đánh giá cán bộ gắn với kết quả, hiệu quả công việc và chức trách được giao, kịp thời phát hiện và tôn vinh những tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến bằng các hình thức khen thưởng, động viên phù hợp; xây dựng khối đại đoàn kết thống nhất trong nội bộ cơ quan, trong các Đoàn kiểm toán, Tổ kiểm toán và giữa các KTV với nhau, giúp đỡ nhau hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. 

Xem xét thời gian bắt đầu triển khai các cuộc kiểm toán NSĐP phù hợp, tập trung kiểm toán tổng hợp, rút ngắn thời gian kiểm toán để đánh giá được đầy đủ việc quản lý và sử dụng NSĐP, phục vụ tốt việc cung cấp thông tin tài chính, ngân sách cho HĐND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phê chuẩn quyết toán NSĐP theo quy định của Luật NSNN./. 

D. Thúy
Các bài đã đăng