Luật KTNN sửa đổi 2015
Kiểm toán viên nhà nước
(kiemtoannn.gov.vn) - Kiểm toán viên nhà nước là chức danh của người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ kiểm toán. Cơ quan Kiểm toán nhà nước (KTNN) thực thi nhiệm vụ của mình chủ yếu thông qua đội ngũ Kiểm toán viên nhà nước; vì vậy, đội ngũ Kiểm toán viên nhà nước mạnh hay yếu là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động, hiệu lực và hiệu quả cũng như uy tín của cơ quan KTNN. Luật KTNN (sửa đổi) đã dành một chương riêng (Chương III) quy định về Kiểm toán viên nhà nước và cộng tác viên kiểm toán. Việc quy định cụ thể vị trí, vai trò, tiêu chuẩn, trách nhiệm của Kiểm toán viên nhà nước là rất cần thiết, nhằm tạo cơ sở cho việc tuyển dụng, sử dụng, quản lý và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ Kiểm toán viên trong giai đoạn phát triển mới của KTNN.
 
Về vị trí, vai trò của Kiểm toán viên nhà nước: Theo quy định tại khoản 8 Điều 3 và Điều 20 của Luật KTNN (sửa đổi): Kiểm toán viên nhà nước là công chức nhà nước được Tổng KTNN bổ nhiệm vào các ngạch kiểm toán viên nhà nước để thực hiện nhiệm vụ kiểm toán. Kiểm toán viên nhà nước gồm các ngạch: Kiểm toán viên; Kiểm toán viên chính; Kiểm toán viên cao cấp. Tổng KTNN quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm các ngạch Kiểm toán viên nhà nước.

So với Luật KTNN hiện hành, Luật KTNN (sửa đổi) đã bỏ ngạch Kiểm toán viên dự bị cho phù hợp với quy định của Luật Cán bộ, công chức; đồng thời, phân cấp thẩm quyền bổ nhiệm các ngạch Kiểm toán viên nhà nước cho Tổng KTNN, nhằm đảm bảo tính độc lập và chủ động của Kiểm toán Nhà nước trong việc bổ nhiệm, miễn nhiệm các ngạch Kiểm toán viên nhà nước.

Về tiêu chuẩn chung của Kiểm toán viên nhà nước: Theo quy định tại Điều 21 Luật KTNN (sửa đổi) thì Kiểm toán viên nhà nước phải bảo đảm các tiêu chuẩn của công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và các tiêu chuẩn sau đây:

“1. Có phẩm chất đạo đức tốt, có ý thức trách nhiệm, liêm khiết, trung thực, khách quan;

2. Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên thuộc một trong các chuyên ngành kiểm toán, kế toán, tài chính, ngân hàng, kinh tế, luật hoặc chuyên ngành khác có liên quan trực tiếp đến hoạt động kiểm toán;

3. Đã có thời gian làm việc liên tục từ 05 năm trở lên theo chuyên ngành được đào tạo hoặc có thời gian làm nghiệp vụ kiểm toán ở KTNN từ 03 năm trở lên, không kể thời gian tập sự;

4. Có chứng chỉ Kiểm toán viên nhà nước”.

So với Luật KTNN hiện hành, Luật KTNN (sửa đổi) đã nâng cao hơn tiêu chuẩn của Kiểm toán viên nhà nước, cụ thể:

- Đối với tiêu chuẩn về kinh nghiệm công tác: Khoản 3 Điều 29 Luật KTNN hiện hành quy định: “Đã có thời gian làm việc liên tục từ năm năm trở lên theo chuyên ngành được đào tạo hoặc có thời gian làm nghiệp vụ kiểm toán ở KTNN từ 3 năm trở lên”. Ngoài các tiêu chuẩn đã được quy định trong Luật Kiểm toán hiện hành, Luật KTNN (sửa đổi) đã bổ sung thêm yêu cầu “không kể thời gian tập sự” (khoản 3 Điều 21).

- Đối với tiêu chuẩn về nghiệp vụ: Luật KTNN (sửa đổi) quy định “Có chứng chỉ Kiểm toán viên nhà nước” (khoản 4 Điều 21) thay thế quy định: “Đã tốt nghiệp chương trình bồi dưỡng kiểm toán viên nhà nước và được Tổng KTNN cấp chứng chỉ” tại khoản 4 Điều 29 của Luật KTNN hiện hành.

Về trách nhiệm của Kiểm toán viên nhà nước: Về cơ bản trách nhiệm của Kiểm toán viên nhà nước được giữ như quy định của Luật KTNN hiện hành.

Theo quy định tại Điều 22 của Luật KTNN (sửa đổi) Kiểm toán viên nhà nước có trách nhiệm sau đây:

“1. Thực hiện nhiệm vụ kiểm toán và chịu trách nhiệm về việc thực hiện nhiệm vụ kiểm toán được phân công; đưa ra ý kiến đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị về những nội dung đã kiểm toán.

2. Tuân thủ pháp luật, nguyên tắc hoạt động, chuẩn mực, quy trình, nghiệp vụ kiểm toán của KTNN và các quy định khác có liên quan của Tổng KTNN.

3. Chịu trách nhiệm trước pháp luật về những bằng chứng, đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị kiểm toán.

4. Thu thập bằng chứng kiểm toán, ghi nhận và lưu giữ tài liệu làm việc của Kiểm toán viên nhà nước theo quy định của Tổng KTNN.

5. Giữ bí mật thông tin, tài liệu thu thập được trong quá trình kiểm toán.

6. Xuất trình thẻ Kiểm toán viên nhà nước khi thực hiện nhiệm vụ kiểm toán.

7. Thường xuyên học tập, rèn luyện để nâng cao kiến thức chuyên môn, kỹ năng và đạo đức nghề nghiệp; thực hiện chương trình cập nhật kiến thức hằng năm theo quy định của Tổng KTNN.

8. Báo cáo kịp thời, đầy đủ với người ra quyết định thành lập Đoàn kiểm toán khi có trường hợp quy định tại Điều 28 của Luật này và các tình huống khác làm ảnh hưởng đến tính độc lập của Kiểm toán viên nhà nước”.

Về tiêu chuẩn bổ nhiệm các ngạch Kiểm toán viên nhà nước.

Để bảo đảm chất lượng đội ngũ Kiểm toán viên nhà nước đáp ứng yêu cầu Hiến định của KTNN, Luật KTNN (sửa đổi) đã bổ sung và quy định chi tiết tiêu chuẩn bổ nhiệm các ngạch Kiểm toán viên nhà nước tại Điều 23, Điều 24, Điều 25, cụ thể như sau:

- Tiêu chuẩn bổ nhiệm vào ngạch Kiểm toán viên (Điều 23):

(1) Đáp ứng các tiêu chuẩn chung của Kiểm toán viên nhà nước quy định tại Điều 21 của Luật này.

(2) Nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật về kiểm toán nhà nước; có kiến thức về quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội.

(3) Nắm được quy trình nghiệp vụ, chuẩn mực KTNN.

(4) Đã đỗ kỳ thi ngạch Kiểm toán viên.

- Tiêu chuẩn bổ nhiệm vào ngạch Kiểm toán viên chính (Điều 24):

(1) Nắm vững và áp dụng thành thạo quy định của pháp luật về kiểm toán nhà nước.

(2) Có năng lực đề xuất, tham mưu xây dựng chiến lược phát triển ngành, kế hoạch kiểm toán dài hạn, trung hạn và khả năng về tổng kết, nghiên cứu lý luận chuyên môn, nghiệp vụ kiểm toán; có khả năng xây dựng chuẩn mực kiểm toán nhà nước và kiến nghị sửa đổi, bổ sung các chuẩn mực kiểm toán nhà nước.

(3) Hiểu biết các thông lệ và chuẩn mực kiểm toán quốc tế.

(4) Có thâm niên tối thiểu ở ngạch Kiểm toán viên là 05 năm hoặc ở ngạch tương đương là 08 năm.

(5) Đã đỗ kỳ thi ngạch Kiểm toán viên chính.

- Tiêu chuẩn bổ nhiệm vào ngạch Kiểm toán viên cao cấp (Điều 25):

(1) Nắm vững và có khả năng chỉ đạo áp dụng quy trình, chuẩn mực, phương pháp chuyên môn, nghiệp vụ ở các lĩnh vực kiểm toán vào hoạt động kiểm toán.

(2) Có năng lực chủ trì nghiên cứu đề tài khoa học cấp bộ, cấp nhà nước về lĩnh vực kiểm toán nhà nước.

(3) Có thâm niên tối thiểu ở ngạch Kiểm toán viên chính là 05 năm hoặc ở ngạch tương đương là 08 năm.

(4) Đã đỗ kỳ thi ngạch Kiểm toán viên cao cấp.

Về miễn nhiệm Kiểm toán viên nhà nước Cùng với việc bổ sung tiêu chuẩn bổ nhiệm các ngạch Kiểm toán viên nhà nước, Luật KTNN (sửa đổi) cũng đã bổ sung quy định miễn nhiệm Kiểm toán viên nhà nước trong hai trường hợp:

Được miễn nhiệm và bị miễn nhiệm tại Điều 27, cụ thể như sau:

- Kiểm toán viên nhà nước được miễn nhiệm trong các trường hợp sau đây:

(a) Nghỉ hưu, thôi việc, chuyển ngành;

(b) Vì lý do sức khỏe, hoàn cảnh gia đình hoặc vì lý do khác mà xét thấy không thể hoàn thành nhiệm vụ được giao.

- Kiểm toán viên nhà nước bị miễn nhiệm trong các trường hợp sau đây:

(a) Bị kết tội bằng bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật;

(b) Vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 8 của Luật này;

(c) Vi phạm phẩm chất đạo đức Kiểm toán viên nhà nước; (d) Không hoàn thành nhiệm vụ ở ngạch bổ nhiệm;

(đ) Có bằng chứng phát hiện người đã được bổ nhiệm vào ngạch Kiểm toán viên nhà nước có gian lận trong thi cử, hồ sơ bổ nhiệm vào ngạch.

Về các trường hợp không được bố trí làm thành viên Đoàn kiểm toán

Để bảo đảm nguyên tắc hoạt động kiểm toán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; trung thực, khách quan, công khai, minh bạch, Luật KTNN (sửa đổi) đã quy định rõ những trường hợp không được bố trí làm thành viên Đoàn kiểm toán tại Điều 28 như sau:

“1. Mua cổ phần, góp vốn hoặc có quan hệ về lợi ích kinh tế với đơn vị được kiểm toán.

2. Đã từng giữ chức vụ quản lý, điều hành, thành viên ban kiểm soát, kế toán trưởng hoặc phụ trách kế toán tại đơn vị được kiểm toán của các năm tài chính được kiểm toán.

3. Trong thời hạn ít nhất là 05 năm, kể từ khi thôi giữ chức vụ quản lý, điều hành, thành viên ban kiểm soát, kế toán trưởng hoặc phụ trách kế toán tại đơn vị được kiểm toán.

4. Có quan hệ là bố đẻ, mẹ đẻ, bố nuôi, mẹ nuôi, bố chồng, mẹ chồng, bố vợ, mẹ vợ, vợ, chồng, con, anh ruột, chị ruột, em ruột với người đứng đầu, kế toán trưởng hoặc người phụ trách kế toán của đơn vị được kiểm toán”.

So với Luật KTNN hiện hành, Luật KTNN (sửa đổi) quy định chặt chẽ hơn thông qua việc mở rộng phạm vi đối tượng áp dụng và phạm vi trách nhiệm đối với những trường hợp không được bố trí làm thành viên Đoàn kiểm toán, cụ thể:

- Mở rộng phạm vi đối tượng áp dụng: Luật KTNN hiện hành chỉ áp dụng đối với Kiểm toán viên nhà nước, còn Luật KTNN (sửa đổi) áp dụng đối với thành viên Đoàn kiểm toán (bao gồm cả Kiểm toán viên nhà nước; công chức, viên chức của KTNN; cộng tác viên KTNN).

- Mở rộng phạm vi không bố trí thành viên Đoàn đoàn kiểm toán: Luật KTNN (sửa đổi) quy định không bố trí thành viên Đoàn kiểm toán: “Trong thời hạn ít nhất là 05 năm, kể từ khi thôi giữ chức vụ quản lý, điều hành, thành viên ban kiểm soát, kế toán trưởng hoặc phụ trách kế toán tại đơn vị được kiểm toán” (khoản 3 Điều 28) thay thế quy định: “Đơn vị được kiểm toán mà mình đã làm lãnh đạo, kế toán trưởng hoặc phụ trách kế toán trong thời hạn ít nhất là năm năm kể từ khi chuyển công tác” tại khoản 2 Điều 31 của Luật KTNN hiện hành.

- Bổ sung trường hợp không bố trí thành viên Đoàn đoàn kiểm toán đối với người đã từng giữ chức vụ quản lý, điều hành, thành viên ban kiểm soát, kế toán trưởng hoặc phụ trách kế toán tại đơn vị được kiểm toán của các năm tài chính được kiểm toán (khoản 2 Điều 28).

Luật KTNN (sửa đổi) quy định đầy đủ chế định về Kiểm toán viên nhà nước như trên nhằm tạo cơ sở pháp lý bảo đảm cho Kiểm toán viên nhà nước độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, có đầy đủ thẩm quyền trong thực hiện nhiệm vụ kiểm toán; đồng thời, tạo cơ sở pháp lý cho công tác quản lý, kiểm tra, giám sát hoạt động và đạo đức nghề nghiệp của Kiểm toán viên nhà nước, góp phần không ngừng nâng cao chất lượng kiểm toán của KTNN./.

TS. Đặng văn Hải

Tài liệu tham khảo:
- Hiến pháp năm 2013;
- Luật KTNN năm 2005;
- Luật KTNN (sửa đổi);
- Tuyên bố LIMA về kiểm tra tài chính của INTOSAI;
- So sánh địa vị pháp lý của cơ quan Kiểm toán tối cao.
Các bài đã đăng