Luật KTNN sửa đổi 2015
Hệ thống tổ chức của Kiểm toán nhà nước
Để thực hiện đầy đủ các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, Kiểm toán nhà nước phải có hệ thống tổ chức bộ máy phù hợp cả về mô hình tổ chức và cơ cấu tổ chức. Theo quy định tại Điều 16 Luật Kiểm toán nhà nước (sửa đổi), Kiểm toán nhà nước (KTNN) được tổ chức và quản lý tập trung thống nhất; cơ cấu tổ chức của KTNN gồm: Văn phòng KTNN, các đơn vị thuộc bộ máy điều hành, KTNN chuyên ngành, KTNN khu vực và đơn vị sự nghiệp công lập.
 
Văn phòng KTNN, KTNN khu vực và đơn vị sự nghiệp công lập có tài khoản và con dấu riêng. Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định số lượng các đơn vị trực thuộc KTNN theo đề nghị của Tổng Kiểm toán nhà nước. Việc xây dựng hệ thống tổ chức của KTNN được thực hiện dựa trên cơ sở quán triệt và cụ thể hóa quy định của Hiến pháp về tính độc lập, địa vị pháp lý của KTNN và Tổng Kiểm toán nhà nước; đảm bảo cơ cấu hợp lý, đồng bộ để thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của KTNN phù hợp với phạm vi đối tượng kiểm toán đã được mở rộng theo yêu cầu của Hiến pháp “thực hiện kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công”.

Hiện nay, theo quy định tại Nghị quyết số 916/2005/NQ-UBTVQH11 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và các nghị quyết khác của Ủy ban thường vụ Quốc hội, cơ cấu tổ chức của KTNN gồm các vụ và các đơn vị tương đương cấp vụ sau đây:

1. Các đơn vị tham mưu thuộc bộ máy điều hành, bao gồm: Văn phòng KTNN; Vụ Tổ chức cán bộ; Vụ Tổng hợp; Vụ Chế độ và Kiểm soát chất lượng kiểm toán; Vụ Pháp chế; Vụ Hợp tác quốc tế; Thanh tra KTNN.

2. Các đơn vị Kiểm toán nhà nước chuyên ngành, bao gồm: KTNN chuyên ngành Ia; KTNN chuyên ngành Ib; KTNN chuyên ngành II; KTNN chuyên ngành III; KTNN chuyên ngành IV; KTNN chuyên ngành V; KTNN chuyên ngành VI; KTNN chuyên ngành VII.

3. Các đơn vị Kiểm toán nhà nước khu vực, bao gồm: KTNN khu vực I (trụ sở đặt tại Thành phố Hà Nội); KTNN khu vực II (trụ sở đặt tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An); KTNN khu vực III (trụ sở đặt tại Thành phố Đà Nẵng); KTNN khu vực IV (trụ sở đặt tại Thành phố Hồ Chí Minh); KTNN khu vực V (trụ sở đặt tại Thành phố Cần Thơ); KTNN khu vực VI (trụ sở đặt tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh); KTNN khu vực VII (trụ sở đặt tại thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái); KTNN khu vực VIII (trụ sở đặt tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà); KTNN khu vực IX (trụ sở đặt tại thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang); KTNN khu vực IX (trụ sở đặt tại thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang); KTNN khu vực X (trụ sở đặt tại thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên; KTNN khu vực XI (trụ sở đặt tại thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa); KTNN khu vực XII (trụ sở đặt tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắc Lắc); KTNN khu vực XIII (trụ sở đặt tại thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu).

4. Các đơn vị sự nghiệp công lập, bao gồm: Trường Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán, Trung tâm Tin học, Báo Kiểm toán.

Qua thực tiễn hoạt động của KTNN những năm qua cho thấy đây là mô hình thích hợp và hiệu quả, phù hợp với quy định về quản lý, điều hành NSNN theo quy định của Luật NSNN. Tuyên bố Lima không quy định rõ về một hình thức, cơ cấu tổ chức có thể được ưu tiên với các cơ quan Kiểm toán nhà nước. Luật KTNN của các nước trên thế giới quy định về tổ chức của cơ quan Kiểm toán nhà nước khác nhau, song về cơ bản theo hai hình thức là hình thức đơn tuyến và hình thức đồng sự.

Theo hình thức đơn tuyến, cơ quan Kiểm toán nhà nước được phân cấp theo thứ bậc, đứng đầu là Chủ tịch kiểm toán hoặc Tổng kiểm toán. Các Luật Kiểm toán đưa ra hình thức tổ chức đơn tuyến thường có ít điều khoản quy định về cơ cấu tổ chức. Trong hầu hết các trường hợp, đặc điểm của Luật Kiểm toán này là trao cho Chủ tịch (Tổng Kiểm toán nhà nước) tất cả các nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan Kiểm toán nhà nước. Tuy nhiên, để thực hiện nhiệm vụ của mình Chủ tịch (Tổng Kiểm toán nhà nước) có thể tự định liệu việc bổ nhiệm lực lượng cán bộ cần phải có. Các Kiểm toán nhà nước được tổ chức theo hình thức đồng sự có các hội đồng quyết định nằm trong cơ quan Kiểm toán nhà nước. Những hội đồng này thông qua các quyết định của mình theo nguyên tắc đa số. Quyền hạn của Hội đồng bao gồm việc thông qua các báo cáo kiểm toán, kế hoạch kiểm toán và báo cáo năm. Sự khác biệt quan trọng nhất so với các cơ quan Kiểm toán nhà nước được tổ chức theo đơn tuyến là quyền quyết định được phân cấp.

KTNN Việt nam được tổ chức theo hình thức đơn tuyến. Đứng đầu cơ quan KTNN là Tổng Kiểm toán nhà nước. Tổng Kiểm toán nhà nước do Quốc hội bầu. Ngoài ra, Luật KTNN (sửa đổi) cũng chứa đựng những nhân tố nhất định của một cơ quan KTNN có quy chế đồng sự thông qua quy định về Hội đồng KTNN: Hội đồng KTNN được thành lập khi cần thiết để tư vấn cho Tổng Kiểm toán nhà nước thẩm định các báo cáo kiểm toán quan trọng; giúp Tổng Kiểm toán nhà nước thực hiện tái thẩm định các báo cáo kiểm toán theo kiến nghị của đơn vị được kiểm toán, giải quyết khiếu nại về báo cáo kiểm toán. Tổng Kiểm toán nhà nước quyết định thành lập Hội đồng KTNN, quyết định thành viên và quy chế làm việc của Hội đồng. Hội đồng KTNN do một Phó Tổng Kiểm toán nhà nước làm Chủ tịch. Căn cứ từng trường hợp cụ thể, Tổng Kiểm toán nhà nước được mời các chuyên gia không thuộc KTNN tham gia Hội đồng (Điều 18).

Chế định Tổng Kiểm toán nhà nước đã được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với quy định của Hiến pháp, bảo đảm tính độc lập, khách quan của Tổng Kiểm toán nhà nước nói riêng và cơ quan KTNN nói chung khi thực hiện nhiệm vụ kiểm toán. Theo quy định tại Điều 12 của Luật KTNN (sửa đổi):

“1. Tổng Kiểm toán nhà nước là người đứng đầu Kiểm toán nhà nước, chịu trách nhiệm trước Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội về tổ chức và hoạt động của Kiểm toán nhà nước.

2. Tổng Kiểm toán nhà nước do Quốc hội bầu, miễn nhiệm và bãi nhiệm theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

3. Nhiệm kỳ của Tổng Kiểm toán nhà nước là 05 năm theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Tổng Kiểm toán nhà nước có thể được bầu lại nhưng không quá hai nhiệm kỳ liên tục”.

Trách nhiệm và quyền hạn của Tổng Kiểm toán nhà nước được quy định tại Điều 13, Điều 14 của Luật KTNN (sửa đổi), trong đó có những trách nhiệm, quyền hạn quan trọng đã được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với quy định của Hiến pháp và các luật liên quan, như sau: “Trình bày báo cáo tổng hợp kết quả kiểm toán năm, báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp, báo cáo trước Ủy ban thường vụ Quốc hội; trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội trước Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội” (khoản 2 Điều 13) và “Giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến hoạt động kiểm toán của Kiểm toán nhà nước” (khoản 8 Điều 13); “Ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật” (khoản 3 Điều 14) và “Đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức đối với Phó Tổng Kiểm toán nhà nước” (khoản 7 Điều 14).

Đặc biệt, Luật KTNN (sửa đổi) đã nâng thẩm quyền cho Tổng Kiểm toán nhà nước quyết định một số nội dung quan trọng mà theo Luật KTNN hiện hành thuộc thẩm quyền của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, như: Xây dựng và ban hành hệ thống chuẩn mực KTNN theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Luật KTNN năm 2005: Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về quy trình xây dựng và ban hành hệ thống chuẩn mực KTNN. Tổng Kiểm toán nhà nước xây dựng và ban hành hệ thống chuẩn mực KTNN trên cơ sở quy định của Uỷ ban thường vụ Quốc hội); quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm các ngạch Kiểm toán viên nhà nước (Luật KTNN năm 2005: Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm Kiểm toán viên cao cấp do Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định). Luật KTNN (sửa đổi) cũng sửa đổi, bổ sung quy định về Phó Tổng Kiểm toán nhà nước cho phù hợp, như: Phó Tổng Kiểm toán nhà nước do Tổng Kiểm toán nhà nước đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức; thời hạn bổ nhiệm của Phó Tổng Kiểm toán nhà nước là 05 năm (Điều 15).

Một nội dung mới quan trọng khác về Kiểm toán trưởng, Phó kiểm toán trưởng là Luật KTNN (sửa đổi) quy định chi tiết hơn với yêu cầu cao hơn, cụ thể như sau: Kiểm toán trưởng, Phó kiểm toán trưởng phải là Kiểm toán viên chính trở lên. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm toán trưởng, Phó kiểm toán trưởng do Tổng Kiểm toán nhà nước quy định (Điều 17).

TS. Đặng văn Hải

Tài liệu tham khảo:
- Hiến pháp năm 2013;
- Luật Kiểm toán nhà nước năm 2005;
- Luật Kiểm toán nhà nước (sửa đổi);
- Tuyên bố LIMA về kiểm tra tài chính của INTOSAI;
- So sánh địa vị pháp lý của cơ quan Kiểm toán tối cao.
Các bài đã đăng