Luật KTNN sửa đổi 2015
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm toán nhà nước
 TS. Đặng Văn Hải

(kiemtoannn.gov.vn) - Theo quy định tại khoản 1 Điều 118 của Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013: “Kiểm toán nhà nước là cơ quan do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, thực hiện kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công”, để cụ thể hóa quy định của Hiến pháp, Luật Kiểm toán nhà nước (sửa đổi) đã quy định đầy đủ hơn về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Kiểm toán nhà nước cho phù hợp với địa vị pháp lý đã được hiến định của Kiểm toán nhà nước. Luật cũng sửa đổi, bổ sung nhiều quy định bảo đảm nâng cao hơn nữa tính độc lập trong tổ chức và hoạt động của KTNN theo tinh thần Hiến pháp năm 2013.

Những bất cập trong quy định về chức năng của Kiểm toán nhà nước trong Luật KTNN năm 2005
 
Điều 14 của Luật Kiểm toán nhà nước năm 2005 quy định “Kiểm toán nhà nước có chức năng kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán hoạt động đối với cơ quan, tổ chức quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước". Trong đó: Kiểm toán báo cáo tài chính là loại hình kiểm toán để kiểm tra, đánh giá, xác nhận tính đúng đắn, trung thực của báo cáo tài chính; Kiểm toán tuân thủ là loại hình kiểm toán để kiểm tra, đánh giá và xác nhận việc tuân thủ pháp luật, nội quy, quy chế mà đơn vị được kiểm toán phải thực hiện; Kiểm toán hoạt động là loại hình kiểm toán để kiểm tra, đánh giá tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong quản lý và sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước. Tuy nhiên, qua thực tiễn thi hành Luật KTNN những năm qua cho thấy quy định về chức năng của KTNN như trên đã có sự trùng lắp với loại hình kiểm toán được quy định tại Điều 36 của Luật KTNN năm 2005 (Loại hình kiểm toán bao gồm: Kiểm toán báo cáo tài chính, Kiểm toán tuân thủ, Kiểm toán hoạt động). Mặt khác, theo khuyến cáo của Tổ chức quốc tế các cơ quan Kiểm toán tối cao và thông lệ các nước trên thế giới thì Kiểm toán nhà nước có các chức năng xác nhận và tư vấn; trong đó, chức năng xác nhận: Xác nhận tính đúng đắn, trung thực của báo cáo tài chính; xác nhận việc tuân thủ pháp luật; đánh giá tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong quản lý và sử dụng tài chính, tài sản công) và chức năng tư vấn: Tư vấn cho cơ quan sử dụng kết quả kiểm toán của KTNN trong quản lý, điều hành ngân sách, quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công; tư vấn cho các cơ quan nhà nước trong việc ban hành, sửa đổi cơ chế chính sách pháp luật cho phù hợp; tư vấn cho đơn vị được kiểm toán khắc phục những yếu kém trong hoạt động của đơn vị).
 
Quy định về chức năng của Kiểm toán nhà nước trong Luật KTNN (sửa đổi)
 
Trên cơ sở tổng kết thực hiện Luật KTNN năm 2005, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của các nước trên thế giới và khuyến cáo của Tổ chức quốc tế các cơ quan Kiểm toán tối cao, Luật Kiểm toán nhà nước (sửa đổi) quy định chức năng của Kiểm toán nhà nước tại Điều 9 như sau: “Kiểm toán Nhà nước có chức năng đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị đối với việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công”. Quy định về chức năng của Kiểm toán nhà nước trong Luật KTNN (sửa đổi) đã khắc phục những bất cập của Luật KTNN năm 2005; đồng thời, mở rộng phạm vi đối tượng kiểm toán của Kiểm toán nhà nước đối với việc “quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công” thay vì “quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước”, nhằm cụ thể hóa quy định về KTNN tại Điều 118 của Hiến pháp năm 2013.
 
Những bất cập trong quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm toán nhà nước trong Luật KTNN năm 2005
 
Qua quá trình tổng kết thực hiện Luật KTNN năm 2005 những năm qua đã cho thấy quy định của Luật KTNN năm 2005 về nhiệm vụ, quyền hạn của KTNN đã bộc lộ những tồn tại, hạn chế:
 
- Nhiệm vụ của KTNN chưa bao quát hết đối với việc kiểm tra, kiểm soát mọi nguồn lực tài chính, tài sản công; chưa thực hiện kiểm toán việc quản lý và sử dụng vốn và tài sản nhà nước tại các doanh nghiệp mà Nhà nước không giữ cổ phần chi phối;
 
- Quy định nhiệm vụ của KTNN tại khoản 4 Điều 15 Luật KTNN năm 2005 về trình ý kiến trước Quốc hội về dự toán ngân sách nhà nước, các dự án, công trình quan trọng quốc gia, phê chuẩn quyết toán NSNN chưa quy định rõ cơ quan, tổ chức có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu cho việc kiểm toán, gây khó khăn trong tổ chức thực hiện. Một số nhiệm vụ phát sinh trong thời gian qua trên thực tế KTNN đã và đang phải thực hiện nhưng chưa được quy định trong Luật KTNN, cụ thể: Tổ chức thông tin, tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật về kiểm toán nhà nước; xây dựng và trình Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Chiến lược phát triển Kiểm toán nhà nước; trình dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội theo quy định của pháp luật.

Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm toán nhà nước trong Luật KTNN (sửa đổi)
 
Để cụ thể hóa quy định của Hiến pháp; đồng thời, khắc phục những tồn tại nêu trên, Luật KTNN (sửa đổi) đã quy định nhiệm vụ, quyền hạn của KTNN tại Điều 10, Điều 11, trong đó có những nhiệm vụ, quyền hạn quan trọng đã được sửa đổi, bổ sung như sau:
 
- Kiểm toán Nhà nước quyết định kế hoạch kiểm toán hằng năm và báo cáo với Quốc hội trước khi thực hiện (khoản 1 Điều 10), nhằm nâng cao tính độc lập của KTNN trong việc lập kế hoạch kiểm toán (bỏ từ “Chính phủ” sau từ “Quốc hội” so với Luật KTNN năm 2005). Tuyên bố Lima về kiểm tra tài chính công của Tổ chức Quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao nhấn mạnh phải để cho các cơ quan Kiểm toán Nhà nước tự mình lập chương trình (kế hoạch) kiểm toán và không được để công việc này nằm trong phạm vi tác động của các cơ quan nhà nước khác, bảo đảm tính độc lập của Kiểm toán Nhà nước.
 
- Tổ chức thực hiện kế hoạch kiểm toán hằng năm và thực hiện nhiệm vụ kiểm toán theo yêu cầu của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ (khoản 2 Điều 10). So với Luật KTNN năm 2005 bổ sung thêm chủ thể có quyền yêu cầu là Chủ tịch nước.
 
- Xem xét, quyết định việc kiểm toán khi có đề nghị của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cơ quan, tổ chức không có trong kế hoạch kiểm toán năm của Kiểm toán nhà nước (khoản 3 Điều 10). So với Luật KTNN năm 2005, Luật sửa đổi bổ sung thêm nhiều chủ thể có quyền đề nghị (Luật KTNN năm 2005 chỉ quy định Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có quyền yêu cầu).

- Trình ý kiến của Kiểm toán Nhà nước để Quốc hội xem xét, quyết định dự toán NSNN, quyết định phân bổ ngân sách trung ương, quyết định chủ trương đầu tư chương trình mục tiêu quốc gia, dự án quan trọng quốc gia, phê chuẩn quyết toán NSNN (khoản 4 Điều 10). Để khắc phục những khó khăn, tồn tại trong việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ này, Luật KTNN (sửa đổi) đã bổ sung quy định tại khoản 3 Điều 68 như sau: “Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cơ quan khác của Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, kịp thời các thông tin, tài liệu để phục vụ cho Kiểm toán nhà nước thực hiện nhiệm vụ quy định tại khoản 4 Điều 10 của Luật này”.
 
 - Bổ sung thêm một số nhiệm vụ, quyền hạn mới cho phù hợp với địa vị pháp lý của Kiểm toán nhà nước và phù hợp thực tiễn hoạt động của KTNN: Giải trình về kết quả kiểm toán với Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội theo quy định của pháp luật (khoản 9 Điều 10); tổ chức theo dõi, kiểm tra việc thực hiện các kết luận, kiến nghị của Kiểm toán nhà nước (khoản 11 Điều 10); tổ chức thông tin, tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật về kiểm toán nhà nước (khoản 17 Điều 10); xây dựng và trình Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Chiến lược phát triển Kiểm toán nhà nước (khoản 18 Điều 10); trình dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội theo quy định của pháp luật (khoản 1 Điều 11)./.
 
Tài liệu tham khảo:

- Hiến pháp năm 2013;
 
- Luật kiểm toán nhà nước năm 2005;
 
- Luật kiểm toán nhà nước (sửa đổi);
 
- Tuyên bố LIMA về kiểm tra tài chính của INTOSAI;
 
- So sánh địa vị pháp lý của cơ quan Kiểm toán tối cao.





Các bài đã đăng