Luật KTNN sửa đổi 2015
Giá trị pháp lý của báo cáo kiểm toán và trách nhiệm của Kiểm toán nhà nước đối với báo cáo kiểm toán
Luật Kiểm toán nhà nước (sửa đổi) được Quốc hội khoá XIII, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 24/6/2015, Chủ tịch nước ký lệnh công bố ngày 08/7/2015 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016. Đây là một đạo luật quan trọng trong hệ thống pháp luật của Nhà nước ta, có vị trí trung tâm trong hệ thống các quy định về kiểm tra, kiểm soát nền kinh tế, là công cụ pháp lý để tăng cường kiểm tra, kiểm soát hoạt động quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công, đồng thời là cơ sở pháp lý quan trọng để đổi mới toàn diện tổ chức và hoạt động của Kiểm toán nhà nước, xây dựng Kiểm toán nhà nước ngày càng chính quy hiện đại.
So với các quy định của Luật Kiểm toán nhà nước năm 2005, Luật Kiểm toán nhà nước (sửa đổi) có nhiều quy định mới; trong đó, một điểm mới rất cơ bản là quy định rõ về giá trị pháp lý của báo cáo kiểm toán tại Điều 7 (Luật Kiểm toán nhà nước năm 2005 quy định về “Giá trị của báo cáo kiểm toán” tại Điều 9). Báo cáo kiểm toán của Kiểm toán nhà nước là văn bản do Kiểm toán nhà nước lập và công bố sau mỗi cuộc kiểm toán để đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị về những nội dung đã kiểm toán (khoản 1 Điều 3). Với nội dung như vậy, báo cáo kiểm toán của Kiểm toán nhà nước là căn cứ để Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của Nhà nước sử dụng trong qúa trình thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình, cụ thể như sau:

Quốc hội sử dụng trong quá trình xem xét, quyết định và giám sát việc thực hiện: mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách, nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế - xã hội dài hạn và hằng năm của đất nước; chủ trương đầu tư chương trình mục tiêu quốc gia, dự án quan trọng quốc gia; chính sách cơ bản về tài chính, tiền tệ quốc gia; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế; quyết định phân chia các khoản thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương; mức giới hạn an toàn nợ quốc gia, nợ công, nợ chính phủ; dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương; phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước;

Chính phủ, cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức, cơ quan khác của Nhà nước sử dụng trong công tác quản lý, điều hành và thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của mình;

Hội đồng nhân dân sử dụng trong quá trình xem xét, quyết định dự toán và phân bổ ngân sách địa phương; phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương; giám sát việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công và thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

Đối với đơn vị được kiểm toán, báo cáo kiểm toán có giá trị bắt buộc thực hiện: "Báo cáo kiểm toán của Kiểm toán nhà nước sau khi phát hành và công khai có giá trị bắt buộc phải thực hiện đối với đơn vị được kiểm toán về sai phạm trong việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công” (khoản 1 Điều 7). Đây là một bước tiến quan trọng, khẳng định địa vị pháp lý, vai trò và hiệu lực hoạt động kiểm toán của Kiểm toán nhà nước.

Luật kiểm toán nhà nước quy định đầy đủ về giá trị pháp lý của báo cáo kiểm toán như trên, một mặt nhằm khẳng định vai trò của Kiểm toán nhà nước: Báo cáo kiểm toán là sản phẩm của hoạt động kiểm toán do Kiểm toán nhà nước – một thiết chế Hiến định thực hiện kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công có đủ năng lực chuyên môn, tuân theo các chuẩn mực nghề nghiệp tiến hành một cách độc lập và chỉ tuân theo pháp luật nên có tính khoa học, chính xác cao; do vậy, là căn cứ để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sử dụng trong qúa trình thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình. Mặt khác, đề cao trách nhiệm của Kiểm toán nhà nước đối với báo cáo kiểm toán: Kiểm toán nhà nước phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về toàn bộ nội dung báo cáo kiểm toán. Trách nhiệm này được quy định theo thứ bậc từ thấp đến cao, từ trách nhiệm của Kiểm toán viên nhà nước: "Chịu trách nhiệm  trước pháp luật về những bằng chứng, đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị kiểm toán" (khoản 3 Điều 22); trách nhiệm của Tổ trưởng Tổ kiểm toán: "Chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính đúng đắn, trung thực, khách quan của những đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị trong biên bản kiểm toán của Tổ kiểm toán" (điểm b khoản 3 Điều 41); trách nhiệm của Trưởng Đoàn kiểm toán: " Chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính đúng đắn, trung thực, khách quan của những đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị trong báo cáo kiểm toán" (điểm b khoản 3 Điều 39) đến trách nhiệm của Tổng Kiểm toán nhà nước: "Chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung báo cáo kiểm toán của Kiểm toán nhà nước" (khoản 3 Điều 13).

Để bảo đảm cho các kết luận, kiến nghị kiểm toán của Kiểm toán nhà nước được thực hiện, khoản 11 Điều 10 của Luật Kiểm toán nhà nước (sửa đổi) quy định Kiểm toán nhà nước có nhiệm vụ: “Tổ chức theo dõi, kiểm tra việc thực hiện các kết luận, kiến nghị của Kiểm toán nhà nước”; khoản 3 Điều 11 quy định Kiểm toán nhà nước có quyền: “Yêu cầu đơn vị được kiểm toán thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán của Kiểm toán nhà nước đối với sai phạm trong báo cáo tài chính và sai phạm trong việc chấp hành pháp luật; kiến nghị thực hiện biện pháp khắc phục yếu kém trong hoạt động của đơn vị do Kiểm toán nhà nước phát hiện”. Trường hợp đơn vị được kiểm toán không thực hiện các kết luân, kiến nghị kiểm toán thì Kiểm toán nhà nước kiến nghị với cơ quan, người có thẩm quyền yêu cầu đơn vị được kiểm toán thực hiện các kết luận, kiến nghị kiểm toán theo quy định tại khoản 4 Điều 11: “Kiến nghị cơ quan, người có thẩm quyền yêu cầu đơn vị được kiểm toán thực hiện đầy đủ, kịp thời các kết luận, kiến nghị kiểm toán về sai phạm trong báo cáo tài chính và sai phạm trong việc chấp hành pháp luật; đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật những trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, kịp thời kết luận, kiến nghị kiểm toán của Kiểm toán nhà nước”. Tổng Kiểm toán nhà nước có quyền: Kiến nghị Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, các cơ quan khác ở trung ương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, thủ trưởng cấp trên trực tiếp của đơn vị được kiểm toán xử lý theo thẩm quyền đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi cản trở hoạt động kiểm toán của Kiểm toán nhà nước; cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật cho Kiểm toán nhà nước; không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, kịp thời kết luận, kiến nghị của Kiểm toán nhà nước. Trường hợp kết luận, kiến nghị của Kiểm toán nhà nước không được giải quyết hoặc giải quyết không đầy đủ thì Tổng Kiểm toán nhà nước kiến nghị người có thẩm quyền xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật (khoản 4 Điều 14). Kiểm toán nhà nước báo cáo tổng hợp kết quả kiểm toán năm và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán với Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội; gửi báo cáo tổng hợp kết quả kiểm toán năm và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán cho Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội; cung cấp kết quả kiểm toán cho Bộ Tài chính, Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân nơi kiểm toán và các cơ quan khác theo quy định của pháp luật (khoản 8 Điều 10).

Kiểm toán nhà nước tổ chức công bố công khai báo cáo kiểm toán và báo cáo kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán theo quy định tại Điều 50, Điều 51 của Luật Kiểm toán nhà nước (sửa đổi). Việc công bố công khai báo cáo kiểm toán thông qua họp báo, công bố trên công báo và các phương tiện thông tin đại chúng sẽ tạo ra áp lực mạnh mẽ của công luận xã hội đối với trách nhiệm của đơn vị được kiểm toán và cá nhân liên quan trong việc tuân thủ pháp luật và thực hiện đầy đủ, kịp thời các kết luận, kiến nghị kiểm toán của Kiểm toán nhà nước.

Luật Kiểm toán nhà nước (sửa đổi) cũng quy định trách nhiệm pháp lý mà Kiểm toán nhà nước phải gánh chịu trong trường hợp có sai phạm gây thiệt hại cho đơn vị được kiểm toán thông qua việc quy định cho đơn vị được kiểm toán có quyền "Yêu cầu Kiểm toán nhà nước bồi thường thiệt hại trong trường hợp gây thiệt hại cho đơn vị được kiểm toán theo quy định của pháp luật" (khoản 6 Điều 56).

Đồng thời, để nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với hoạt động kiểm toán nhà nước, Luật Kiểm toán nhà nước (sửa đổi) bổ sung Chương 7 quy định về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đối với hoạt động Kiểm toán nhà nước, trong đó quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện, giám sát hoặc chỉ đạo thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán của Kiểm toán nhà nước, cụ thể như sau:

Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phối hợp với Kiểm toán nhà nước trong tổ chức và hoạt động kiểm toán nhà nước; thực hiện, đôn đốc và chỉ đạo các cơ quan liên quan thực hiện và báo cáo kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán của Kiểm toán nhà nước (Điều 64).

Hội đồng nhân dân giám sát việc thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán của Kiểm toán nhà nước tại địa phương (Điều 66).

Ủy ban nhân dân có trách nhiệm thực hiện và chỉ đạo các cơ quan của địa phương thực hiện và báo cáo đầy đủ, kịp thời kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán của Kiểm toán nhà nước (Điều 67).

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động kiểm toán nhà nước có trách nhiệm thực hiện kết luận và kiến nghị kiểm toán của Kiểm toán nhà nước, đồng thời gửi báo cáo kết quả cho Kiểm toán nhà nước (Điều 68).

Một nội dung mới quan trọng khác liên quan đến trách nhiệm của Kiểm toán nhà nước đối với kết quả kiểm toán là Luật Kiểm toán nhà nước (sửa đổi) quy định cho đơn vị được kiểm toán có quyền khiếu nại về kết quả kiểm toán (Luật Kiểm toán nhà nước năm 2005 đơn vị được kiểm toán có quyền kiến nghị, không có quyền khiếu nại về kết quả kiểm toán): “Khiếu nại về đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị kiểm toán trong báo cáo kiểm toán khi có căn cứ cho rằng đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị đó là trái pháp luật” (khoản 5 Điều 56). Đồng thời, quy định rõ thời hạn khiếu nại, trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, cụ thể như sau: “Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo kiểm toán, đơn vị được kiểm toán có quyền khiếu nại với Tổng Kiểm toán nhà nước về đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị kiểm toán trong báo cáo kiểm toán khi có căn cứ cho rằng kết quả kiểm toán đó là trái pháp luật, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của đơn vị” (điểm b khoản 2 Điều 69); “Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán được thực hiện theo quy định của Luật khiếu nại” (điểm c khoản 2 Điều 69).

Việc qui định đầy đủ về giá trị pháp lý, hiệu lực báo cáo kiểm toán và trách nhiệm của Kiểm toán nhà nước đối với báo cáo kiểm toán trong Luật Kiểm toán nhà nước (sửa đổi) sẽ tạo cơ sở pháp lý nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Kiểm toán nhà nước đáp ứng yêu cầu Hiến định về địa vị pháp lý của Kiểm toán nhà nước và Tổng Kiểm toán nhà nước, góp phần thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, thất thoát, lãng phí, nâng cao hiệu quả sử dụng tài chính, tài sản công ở nước ta hiện nay./.

TS. Đặng Văn Hải – Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế
Các bài đã đăng