Luật KTNN sửa đổi 2015
Văn phòng Chủ tịch nước công bố Luật Kiểm toán Nhà nước (sửa đổi)

(kiemtoannn.gov.vn) - Sáng 17/7/2015, tại Hà Nội, dưới sự chủ trì của Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước Đào Việt Trung, Văn phòng Chủ tịch nước tổ chức họp báo công bố Lệnh của Chủ tịch nước công bố Luật Kiểm toán Nhà nước (KTNN) (sửa đổi) cùng với 10 luật, 01 pháp lệnh và 01 nghị quyết đã được Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua trong thời gian vừa qua.

Phó Tổng Kiểm toán Nhà nước Vũ Văn Họa trình bày những điểm mới của Luật KTNN (sửa đổi)

Luật KTNN (sửa đổi) đã được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 24/6/2015 và có hiệu lực từ 01/01/2016. Luật KTNN (sửa đổi) được thông qua nhằm cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp về KTNN, đồng thời khắc phục những tồn tại, bất cập của Luật KTNN hiện hành. Luật gồm 9 chương, 73 điều (tăng 1 chương, giảm 3 điều so với Luật KTNN năm 2005).

Thay mặt KTNN, Phó Tổng Kiểm toán Nhà nước Vũ Văn Họa giới thiệu những nội dung mới của Luật KTNN (sửa đổi): Phạm vi, đối tượng kiểm toán; Giá trị pháp lý của báo cáo kiểm toán; Tổng Kiểm toán Nhà nước; Thời hạn kiểm toán; Công khai kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán; Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đối với hoạt động của KTNN. 

Theo đó, Luật KTNN (sửa đổi) quy định rõ đối tượng kiểm toán của KTNN là việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công và các hoạt động có liên quan đến việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công của đơn vị được kiểm toán. Luật đã quy định rõ nội dung tài chính công, tài sản công theo phạm vi kiểm toán của KTNN. Do phạm vi mở rộng theo quy định của Hiến pháp nên bên cạnh những đơn vị được kiểm toán như quy định của Luật hiện hành, Luật KTNN (sửa đổi) bổ sung đơn vị được kiểm toán là cơ quan quản lý sử dụng nợ công.

Luật KTNN (sửa đổi) quy định rõ, báo cáo kiểm toán của KTNN sau khi phát hành và công khai có giá trị bắt buộc phải thực hiện đối với đơn vị được kiểm toán về sai phạm trong việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công. Đồng thời, quy định báo cáo kiểm toán của KTNN là căn cứ để Quốc hội, Chính phủ, tổ chức sử dụng trong công tác quản lý, điều hành và thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của mình và là căn cứ để đơn vị được kiểm toán thực hiện quyền khiếu nại.

           
Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước Đào Việt Trung chủ trì buổi họp báo

Chế định Tổng Kiểm toán Nhà nước trong Luật KTNN (sửa đổi) được sửa đổi cho phù hợp với quy định của Hiến pháp; sửa đổi quy định về nhiệm kỳ của Tổng Kiểm toán Nhà nước từ 7 năm thành 5 năm cho phù hợp với các chức danh khác trong bộ máy nhà nước.

Để đảm bảo kết quả kiểm toán phục vụ kịp thời cho hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, Luật quy định thời hạn cụ thể của một cuộc kiểm toán không quá 60 ngày. Trường hợp phức tạp, cần thiết thì Tổng Kiểm toán Nhà nước quyết định gia hạn một lần không quá 30 ngày. Đối với cuộc kiểm toán hoạt động để đánh giá tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công có quy mô toàn quốc thường cần thời gian kiểm toán dài thì Tổng Kiểm toán Nhà nước quyết định thời gian cụ thể thời hạn kiểm toán cho phù hợp.

Nhằm tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân có thể tiếp cận để giám sát hoạt động của KTNN và việc chấp hành pháp luật, kiến nghị của KTNN của các đơn vị được kiểm toán, Luật quy định báo cáo kiểm toán sau khi phát hành được Tổng Kiểm toán Nhà nước công bố bằng một hoặc một số hình thức: Họp báo; Công bố trên công báo và phương tiện thông tin đại chúng; Đăng trên trang điện tử và các ấn phẩm của KTNN; Niêm yết tại trụ sở của đơn vị được kiểm toán.

Để nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cơ quan với hoạt động KTNN, Luật bổ sung Chương 7, quy định về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đối với hoạt động của KTNN (Quốc hội, Chính phủ, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân; cơ quan, tổ chức trong quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công…).

Ngoài Luật KTNN (sửa đổi), các văn bản pháp luật khác được công bố bao gồm: 10 luật (Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Luật Thú y; Luật Nghĩa vụ Quân sự; Luật Chính quyền địa phương; Luật Tổ chức Chính phủ; Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân; Luật An toàn, vệ sinh lao động; Luật Ngân sách nhà nước); 01 Pháp lệnh (Pháp lệnh Cảnh sát môi trường); 01 Nghị quyết (Nghị quyết về thực hiện chính sách hưởng bảo hiểm xã hội một lần đối với người lao động)./.

Ngọc Bích

Các bài đã đăng