Luật KTNN sửa đổi 2015
Khái quát kết quả 8 năm thực hiện Luật KTNN và đề xuất sửa đổi, bổ sung
(Lược ghi báo cáo tổng hợp của PGS.TS LÊ HUY TRỌNG - Vụ trưởng Vụ Pháp chế KTNN, Tổ trưởng Tổ Biên tập Luật KTNN (sửa đổi) tại Hội thảo)

KTNN được thành lập năm 1994 theo Nghị định 70/CP ngày 11/7/1994 của Chính phủ. Giai đoạn 1994-2005, KTNN là cơ quan thuộc Chính phủ, tổ chức và hoạt động theo Quyết định 61/TTg ngày 24/01/1995 của Thủ tướng Chính phủ và Nghị định 93/2003/NĐ-CP ngày 13/8/2003 của Chính phủ. Từ 01/01/2006, KTNN là cơ quan do Quốc hội thành lập, tổ chức và hoạt động theo Luật KTNN.
 
Một số kết quả chính sau 8 năm tổ chức thực hiện Luật KTNN
 
Theo quy định của Luật KTNN, địa vị pháp lý của KTNN được nâng cao một bước rõ rệt: "Kiểm toán Nhà nước là cơ quan chuyên môn về lĩnh vực kiểm tra tài chính nhà nước do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật". Luật KTNN cũng quy định rõ thẩm quyền bổ nhiệm Tổng Kiểm toán Nhà nước: "Tổng Kiểm toán Nhà nước do Quốc hội bầu, miễn nhiệm và bãi nhiệm theo đề nghị của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội...”. Theo đó, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của KTNN thể hiện đầy đủ hơn. KTNN có chức năng kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán hoạt động đối với cơ quan, tổ chức quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước (Điều 14). Luật KTNN cũng quy định rõ 16 nhiệm vụ của KTNN, tương ứng là 9 quyền hạn của KTNN.
 
Luật KTNN đã giúp kiện toàn một bước cơ bản về tổ chức bộ máy và nhân sự của KTNN. Hiện nay KTNN có 31 đơn vị trực thuộc: 7 đơn vị tham mưu; 8 KTNN chuyên ngành; 13 KTNN khu vực và 3 đơn vị sự nghiệp. Toàn ngành hiện có 1.851 công chức (trong đó có 12 kiểm toán viên (KTV) cao cấp, 308 KTV…). Quy mô, chất lượng kiểm toán được mở rộng và tăng cường. Năm 2006, KTNN mới tiến hành 104 cuộc kiểm toán thì đến năm 2014, KTNN đã thực hiện 186 cuộc kiểm toán. Kết quả xử lý tài chính cũng tăng lên: Năm 2006, KTNN đề nghị xử lý tài chính khoảng 9.436 tỷ đồng; năm 2013 đề nghị xử lý tài chính 22.821 tỷ đồng.
 
Hàng năm, KTNN đều tổ chức từ 2 đến 3 cuộc họp báo để công khai Kế hoạch kiểm toán năm, kết quả kiểm toán và thực hiện kiến nghị kiểm toán năm và kết quả một số cuộc kiểm toán quan trọng. Hoạt động công khai kết quả kiểm toán của KTNN được dư luận quan tâm, đồng tình và đánh giá cao. Cùng với đó, các đơn vị được kiểm toán và tổ chức, cá nhân có liên quan đã nâng cao ý thức, trách nhiệm trong việc tuân thủ nghĩa vụ và trách nhiệm của mình.
 
Về công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật KTNN, đến nay đã có 13 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; 4 Nghị định của Chính phủ; 4 Thông tư và Thông tư liên tịch; Tổng Kiểm toán Nhà nước đã ban hành 41 Văn bản quy phạm pháp luật, trong đó 9 Quy trình kiểm toán.
 
Những vấn đề cần xem xét sửa đổi, bổ sung Luật
 
Địa vị pháp lý của KTNN hiện nay chưa phù hợp với quy định của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
 
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của KTNN chưa đầy đủ. Nhiệm vụ của KTNN chưa bao quát hết đối với việc kiểm tra, kiểm soát việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công; nhiệm vụ kiểm toán thuế đối với các tổ chức có nghĩa vụ nộp NSNN (không kể các DNNN); nhiệm vụ kiểm toán nợ công; chưa quy định rõ nhiệm vụ tiền kiểm của KTNN.
 
Hiến pháp 2013 quy định Tổng Kiểm toán Nhà nước do Quốc hội bầu theo đề nghị của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (không quy định phải thống nhất với Thủ tướng Chính phủ như Luật hiện hành).
 
Tên gọi KTNN chuyên ngành, KTNN khu vực và chức danh Kiểm toán trưởng chưa tương thích với tên gọi của tổ chức và chức danh tương đương trong hệ thống tổ chức bộ máy Nhà nước; chưa quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của người đứng đầu KTNN chuyên ngành và KTNN khu vực trong chỉ đạo và tổ chức hoạt động kiểm toán.
 
Theo Luật Cán bộ công chức, ngạch công chức chỉ có 3 ngạch KTV (chuyên viên, chuyên viên chính và chuyên viên cao cấp); trong khi đó Luật KTNN quy định 4 ngạch (thêm ngạch KTV dự bị).
 
Về hoạt động kiểm toán cũng có một số điểm cần chỉnh sửa, như: thành phần Đoàn kiểm toán, biên bản kiểm toán, triển khai kiểm toán, phát hành báo cáo kiểm toán. Ví dụ, theo Luật KTNN, khi kết thúc dự thảo biên bản kiểm toán KTNN gửi các địa phương tham gia ý kiến trong thời gian 7 ngày, trên thực tế là khó khả thi; hoặc hiện nay đã thực hiện báo cáo kiểm toán của tổ, nhưng chưa có quy định trong Luật.
 
Việc xác định đơn vị kiểm toán (Điều 63) chưa bao quát hết phạm vi kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công của KTNN.
 
Ngoài ra, cần xem xét sửa đổi, bổ sung quy định về mối quan hệ giữa KTNN với các cơ quan hữu quan; việc xử lý đối với các hành vi vi phạm Luật KTNN của đơn vị, tổ chức và cá nhân có liên quan; tăng cường giá trị pháp lý của báo cáo kiểm toán; bảo đảm sự tương thích của Luật KTNN với một số luật có liên quan: Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ...
 
Đề xuất một số định hướng sửa đổi, bổ sung
 
1. Địa vị pháp lý của KTNN cần sửa đổi phù hợp với Điều 118 của Hiến pháp 2013: KTNN là cơ quan do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
 
2. Quy định chức năng kiểm tra, xác nhận và tư vấn đối với hoạt động quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công; bổ sung nhiệm vụ kiểm toán nghĩa vụ nộp ngân sách của các tổ chức, kiểm toán nợ công.
 
3. Chế định Tổng Kiểm toán Nhà nước và quyền miễn trừ: Tổng Kiểm toán Nhà nước là người đứng đầu KTNN, do Quốc hội bầu. Tổng Kiểm toán Nhà nước chịu trách nhiệm và báo cáo kết quả kiểm toán, báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp, chịu trách nhiệm và báo cáo trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Không được bắt, giam, giữ, khởi tố Tổng Kiểm toán Nhà nước nếu không có sự đồng ý của Quốc hội hoặc trong thời gian Quốc hội không họp, không có sự đồng ý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
 
4. Tổ chức của KTNN thực hiện theo mô hình tập trung, gồm lãnh đạo KTNN, các cơ quan tham mưu, các KTNN chuyên ngành, KTNN khu vực và các đơn vị sự nghiệp.
5. Bỏ ngạch KTV dự bị.
 
6. Bổ sung quy định về kiểm soát chất lượng kiểm toán.
 
7. Về các đơn vị được kiểm toán: Bổ sung các đơn vị sự nghiệp công lập; cơ quan được giao quản lý, theo dõi, sử dụng nợ công; các cơ quan tổ chức có nghĩa vụ nộp NSNN theo luật định; sửa đổi quy định tại khoản 11, Điều 63 của Luật theo hướng “Các doanh nghiệp có quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước theo quy định của pháp luật”.
8. Bổ sung 1 Chương về “Trách nhiệm của các cơ quan liên quan đối với hoạt động KTNN”.
 
Ngoài ra, KTNN cũng đề nghị việc bổ sung vào Luật KTNN (sửa đổi) quy định: “Thực hiện kiểm toán đối với các tổ chức có nghĩa vụ nộp NSNN”./.

Theo Báo Kiểm toán số 22/2014


Các bài đã đăng